Back to blog

Liệu Bạn Có Thật Sự Hiểu Haibane Renmei?

Hành Trình Tìm Kiếm Giá Trị Của Tác Phẩm

Published on 2/16/2026 | Last updated on 2/16/2026

Đọc các bài review/phân tích của con Haibane Renmei tôi cảm giác người ta thường không tiếc lời gọi tác phẩm này là một bức tranh tuyệt đẹp, mang âm hưởng của một giấc mơ, hay ca ngợi nó như một câu chuyện đầy xúc động về tình bạn, sự buông bỏ, cảm giác tội lỗi và sự tha thứ cho chính mình. Thậm chí, một số lượng không nhỏ người xem và cả những người cho rằng bản thân là nhà phê bình nghiệp dư liên tục đóng khung bộ phim vào một kiểu ngụ ngôn về tôn giáo, coi thị trấn Glie như một dạng thế giới lấy khái niệm cốt lõi từ luyện ngục, nơi những linh hồn mang tội lỗi đang thực hiện những công việc khiêm nhường để gột rửa nghiệp chướng trước khi được thăng thiên. Tôi phải nói thẳng rằng nếu bạn chỉ nhìn cái bộ này qua lăng kính tôn giáo nặng nề ấy, hay đơn thuần coi nó là một bộ phim chữa lành mang màu sắc u buồn thì xin chúc mừng, bạn đã hoàn toàn trượt con * nó khỏi mấu chốt và sự tàn nhẫn đích thực của tác phẩm này. Những nhận xét khen ngợi kia không hẳn là sai nhưng mà ta phải hiểu chúng theo cái kiểu mô tả nước biển là ướt, chính xác nhưng gần như vô nghĩa để mà dùng từ “cảm nhận” hay “phân tích”. 1 trong những cách nhìn nhận phổ biến là coi Glie như luyện ngục không hẳn là ngu ngốc nhưng cái vấn đề là nó đã thay thế sự khó chịu cần phải có/được tạo ra có chủ ý của tác phẩm bằng một thứ sơ đồ tư duy quá đỗi dễ nuốt. Và trong chính cái hành động gán ghép đó, nó vô hiệu hóa chính thứ làm cho tác phẩm trở nên đáng sợ và ám ảnh, thứ mà tôi sẽ đi sâu hơn vào ở phần dưới đây.

Haibane Renmei không phải là một câu chuyện về những thiên thần đang cố gắng kiếm tìm đôi cánh trắng. Nó càng không phải là một bài giảng đạo đức về việc làm việc thiện giúp đỡ người khác để được chúa đưa lên thiên đàng. Thực chất, tác phẩm của Yoshitoshi ABe là một nhát dao được bọc trong lớp nhung lụa có thể nói là mềm mại nhất, bởi nó là một thí nghiệm tàn bạo ép người xem phải trải nghiệm ở cấp độ cảm xúc, nhận thức về điều kiện tồn tại của một ý thức bị mắc kẹt trong chính cơ thể mình, và cái giá tàn khốc của việc được giải phóng khỏi sự mắc kẹt đó. Tác phẩm này nói về cái bạo lực của sự dịu dàng, về tính phi lý của hiện thể, và trên hết là về nỗi kinh hoàng tột độ khi một kẻ chán ghét bản thân bị ép phải đối diện với sự tha thứ, cứu rỗi. Bây giờ hãy bắt đầu bằng cách đập bỏ cái ảo tưởng lớn nhất mà hầu hết người xem thường mắc phải khi họ nỗ lực để giải mã thế giới của tác phẩm này như một bài toán có những đáp án cố định, bởi lẽ xuyên suốt mười ba tập phim, người xem bị ném vào một thế giới nơi những đứa trẻ mọc ra đôi cánh xám và đội vòng sáng trên đầu được sinh ra từ những chiếc kén khổng lồ. Họ sống trong một thị trấn bị bao quanh bởi những bức tường thành khổng lồ không thể vượt qua, và chỉ có một tổ chức bí ẩn cùng những thương nhân mang danh Toga được phép giao tiếp với thế giới bên ngoài. Cái plot này đã khiến rất nhiều người xem cảm thấy khó chịu, hoặc coi đó là một lỗ hổng kịch bản khi bộ phim kết thúc mà không hề giải thích rõ ràng Toga là ai, bức tường là gì, hay nguồn gốc thực sự của các Haibane. Họ đòi hỏi những câu trả lời theo một cách tuyến tính, rõ ràng. Nhưng sự thiếu vắng câu trả lời ở đây không phải là sự lười biếng của biên kịch, hay cái trò tỏ ra bí ẩn để đánh lừa người xem gì cả. Sự mơ hồ này chính là một quyết định có chủ đích, và nó là cốt lõi của trải nghiệm con người.

Cái thế giới mà Rakka tỉnh dậy không phải là một thế giới kỳ ảo như cái thế giới game để chờ người chơi đến khám phá cốt truyện. Nó là một phương tiện nhằm thể hiện hoàn hảo cho khái niệm Geworfenheit, hay tính bị ném, một tư tưởng của triết gia Martin Heidegger. Nó có thể được diễn giải như sau: con người chúng ta luôn bị ném vào một thế giới đã tồn tại sẵn, với những quy luật, ngôn ngữ và bối cảnh mà ta không hề lựa chọn hay có quyền quyết định. Ta không biết mình từ đâu đến trước khi sinh ra, và cũng chẳng thể biết chắc chắn điều gì đang chờ đợi ta sau cái chết. Chúng ta bị như bị dìm đến khi ngập trong thế giới này trước khi kịp suy nghĩ về nó. Nhưng điều mà nhiều người bỏ qua là Heidegger còn nói về Befindlichkeit, tức là trạng thái tâm cảm. Trước khi bạn kịp phân tích bất cứ điều gì bằng lý trí, bạn đã nhận thấy mình trong một tâm trạng định sẵn, và chính tâm trạng đó quyết định cách thế giới xuất hiện trước mắt bạn. Hãy nhìn cách Rakka trải nghiệm Glie đi, cô bé tỉnh dậy trong trạng thái hoang mang, bất an và lạc lõng giữa một thế giới mà cô không có ký ức gì về nó. Tâm trạng của cô là sự xa lạ, và chính cái Befindlichkeit đó khiến Glie hiện lên thật dịu dàng nhưng không thể đặt sự tin tưởng nào, mọi lời giải thích đều nghe có vẻ hợp lý nhưng không bao giờ là đủ. Abe buộc người xem phải chia sẻ trạng thái tâm cảm này của Rakka, bởi chính chúng ta cũng bị ném vào Glie mà không có bản đồ cơ mà? Ta cũng không có bất kỳ khung quy chiếu nào để biến những thứ ta thấy ở thế giới thực thành một hệ thống quen thuộc trong thế giới của tác phẩm này.

Những bức tường bao quanh Glie không phải là một thiết lập cốt truyện ngẫu nhiên để tạo sự bí ẩn/cố tỏ ra bí ẩn. Có thể nói chúng là hiện thân của khái niệm Faktizität tức tính sự thật, nó những giới hạn cho trước mà ta không thể vượt qua hay đàm phán theo cách hiểu thông thường. Bức tường ở đây đóng vai trò là sự hữu hạn tuyệt đối của nhận thức con người, được xây bằng đá và những cụm dây leo vô tri. Dễ hiểu hơn ta có thể nói rằng con người đang bị mắc kẹt trong giới hạn của chính mình và không thể chạm tới bức tường cũng không thể hiểu được những kẻ đi xuyên qua nó, tức Toga, những thương nhân câm lặng với khuôn mặt bị che kín, là hiện thân của cái bất khả tri. Họ là bằng chứng rành rành rằng có điều gì đó tồn tại bên ngoài những bức tường, nhưng kể cả các nhân vật trong tác phẩm lẫn người xem chúng ta đều không bao giờ có thể tiếp cận nó bằng chính sức lực hay trí tuệ của bản thân. Việc người xem cùng chia sẻ sự thiếu vắng thông tin với các nhân vật đã buộc chúng ta phải trải nghiệm chính sự bất lực mang tính bản thể luận đó. Vấn đề là chúng ta luôn đòi hỏi bộ phim phải giải thích bức tường, vô hình trung là đang đòi hỏi một sự dối trá, một sự phản bội lại nguyên lý cấu trúc sâu nhất của tác phẩm. Bởi lẽ tác phẩm từ chối việc lừa dối bạn, bắt bạn phải chấp nhận một sự thật ráo hoảnh rằng sống về bản chất là quá trình cố gắng kiến tạo ý nghĩa bên trong những giới hạn mà ta mãi mãi không bao giờ thấu hiểu được.

Điều này trực tiếp dẫn chúng ta đến với trải nghiệm của Rakka, một trải nghiệm mang đậm tính hiện tượng học nhục thân. Hầu hết các bài phân tích và ý kiến đánh giá chỉ xem việc Rakka không có ký ức như một motif quen thuộc của những bộ anime về chứng mất trí nhớ hoặc một setting nào đó tương tự thế. Nhưng hãy nhìn thật kỹ cách tác giả khắc họa sự ra đời của cô bé với một sự chú tâm vào chiều kích thể xác mà rất ít tác phẩm dám chạm tới. Đầu tiên ta phải ngầm hiểu với nhau rằng nhân vật Rakka không chỉ đơn thuần là quên đi quá khứ, cô là một ý thức đang va chạm với sự tồn tại vật lý lần đầu tiên. Cảnh Rakka mọc cánh ở đầu phim là một trong những cảnh mang tính nhục cảm và bạo lực nhất, dù không hề có sự máu me rẻ tiền khi mà đôi cánh xuyên thủng lớp da lưng của cô trong sự đau đớn tột cùng, máu đổ, cô gào thét, xé rách sự nguyên vẹn của cơ thể, trong khi những người xung quanh chỉ có thể đứng nhìn với vẻ mặt lo lắng nhưng đành chấp nhận như một lẽ tất yếu. Dễ dàng nhận ra sự đau đớn đó không phải là một sự cố ngoài ý muốn mà nó chính là cái giá của việc tồn tại trong một hình hài vật lý thay vì linh hồn. Chính Maurice Merleau-Ponty đã nhấn mạnh rằng chúng ta không hề sở hữu một cơ thể theo cách ta sở hữu một món đồ, mà chúng ta chính là cơ thể đó. Không có ý thức thuần túy nào có thể tách rời khỏi xương cốt và da thịt.

Merleau còn có khái niệm corps habituel, tức là thân thể thói quen mô tả cái cách mà cơ thể dần dần tích hợp những yếu tố mới vào sơ đồ vận động của nó để rồi tri giác thế giới qua chính những yếu tố đó. Ban đầu, đôi cánh của Rakka là một sự xâm lấn bạo lực, nặng nề, xám xịt và vướng víu. Nhưng cô dần phải học cách thích nghi và tích hợp chúng chúng vào bản thể của mình. Ta dễ có thể nhận ra những phân cảnh phản ánh tư tưởng này như học cách ngủ nghiêng để không đè lên chúng, học cách mặc những chiếc áo có khoét lỗ ở lưng, học cách chấp nhận rằng thứ cồng kềnh vô dụng này là một phần không thể tách rời của cái tôi, của cơ thể. Cái cảm giác xa lạ với chính cơ thể mình, sự đau đớn khi phải gánh vác một danh tính vật lý mà mình không hề lựa chọn là ẩn dụ vô cùng sắc bén cho những khái niệm như tuổi dậy thì, cho căn bệnh trầm cảm, và cho sự lạc lõng của việc làm người. Nói dễ hiểu nó như cách nói “bạn không thể tháo bỏ đôi cánh của mình dù nó có vô dụng đến đâu”. Và cái vòng sáng trên đầu thì còn mang tính tàn nhẫn hơn thế bởi nó không mọc ra tự nhiên từ cơ thể. Nó được ban cho, kiểu bị ép phải nhận vậy và được giữ cố định trên đầu bằng một khung dây thép vô tri giống như một thiết bị chỉnh hình y tế hơn là một vầng hào quang thần thánh, nhìn như mấy cái vở kịch rẻ tiền mà các diễn viên đóng giả làm những thiên thần vậy. Vòng sáng của Haibane chính là một danh tính được áp đặt từ bên ngoài, được cố định bằng cơ chế vật lý(dây thép) chứ không phải sinh ra từ bản chất nội tại. Nó là một sự giễu nhại sâu sắc cho cái cách con người buộc phải tiếp nhận những danh tính xã hội như giới tính, giai cấp, hay vai trò gia đình từ khi ta chưa kịp đồng ý/chưa thể đồng ý và để rồi sau một thời gian, ta mang vác chúng đến mức quên bẵng đi rằng chúng từng là những thứ hoàn toàn xa lạ đối với chính mình.

Nhưng điều khiến Haibane Renmei trở thành một kiệt tác tâm lý lại không nằm ở những ẩn dụ vĩ mô đao to búa lớn ấy, mà nằm ở chính cái không khí đặc quánh bao trùm lên toàn bộ tác phẩm. Người ta vẫn thường gọi nửa đầu bộ phim là bình yên, chậm rãi, thậm chí là nhàm chán, với phần hình ảnh như những bức tranh màu nước nhạt nhòa và những bản nhạc nền dịu dàng như bài hát ru cùn với kiến trúc châu âu cổ kính, những đồng cỏ xanh, cối xay gió, những con phố lát đá tĩnh lặng. Tất nhiên không hề hiếm những lời phàn nàn cho rằng phim thiếu vắng cốt truyện hay xung đột rõ ràng của các phe phái, và chỉ khi biến cố xảy ra ở giữa phim thì câu chuyện mới thực sự bắt đầu, đa số người xem cho là vậy. Tất nhiên họ đã nhầm, nhầm một cách vô cùng tai hại. Bởi chính cái sự chậm rãi và yên bình đến mức nhàm chán đó lại là một đòn tấn công tâm lý tàn bạo nhất mà tác phẩm giáng xuống. Cá nhân tôi gọi đó là sự bạo lực của sự dịu dàng.

Hãy thử nghĩ xem, trong hầu hết các tác phẩm khác, nhân vật chính luôn có cơ hội đối mặt với cái ác từ bên ngoài. Dễ thấy nhất có thể là quái vật, là chiến tranh, là sự bất công xã hội, hay những kẻ thù hữu hình bằng xương bằng thịt như Johan Liebert... Những yếu tố ngoại lai đó vô tình trở thành chiếc phao cứu sinh tâm lý, cho phép nhân vật và cả người xem có một mục tiêu để xả sự phẫn nộ, có một kẻ thù để vung gươm chiến đấu, và quan trọng nhất, có một lý do hoàn hảo từ bên ngoài để giải thích cho sự đau khổ của chính mình. Dễ thấy rằng cái mệnh đề cho rằng tôi đau khổ vì thế giới này tàn nhẫn luôn dễ nuốt hơn gấp ngàn lần so với sự thật rằng tôi đau khổ vì chính tôi đang mục nát từ bên trong. Nhưng rồi ta nhận ra tác phẩm này đã tước đoạt toàn bộ những chiếc phao cứu sinh lừa dối đó, bởi lẽ thị trấn Glie quá đỗi bình yên, nó không có ác nhân nào rình rập, không có sự phân biệt đối xử bằng bạo lực, những con người bình thường ở đây đối xử với các Haibane bằng sự ân cần, bao dung và tôn trọng tuyệt đối như cách một thế giới yên bình vẫn luôn vận hành. Mọi thứ đều được bao phủ trong một màn sương của sự tử tế vô tận, như một bức tranh tuyệt đẹp của 1 tác phẩm Iyashikei thường thấy.

Và điều đó thật đáng sợ làm sao, khó hình dung lắm sao? Bởi vì khi thế giới xung quanh bạn hoàn toàn yên bình, dịu dàng, khi mọi nhu cầu cơ bản đều được đáp ứng và không có bất kỳ thứ gì để bạn có thể trút lỗi, mà bạn vẫn cảm thấy trống rỗng, mục nát và tuyệt vọng từ tận đáy sâu bên trong, thì con quái vật duy nhất còn sót lại trong câu chuyện này chính là bản thân bạn. Sự dịu dàng của thị trấn Glie không sinh ra để vỗ về lòng người hay để chữa lành tâm hồn cho người xem. Nó thực chất là một căn phòng cách âm tàn nhẫn nhất có thể được tạo ra, là nơi mà tiếng thét của sự chán ghét bản thân vang lên rồi va đập vào các bức tường mà không bị bất kỳ tạp âm nào của cõi trần che lấp. Cơ chế tâm lý ở đây vận hành cực kỳ cụ thể/có chủ đích. Hình dung nhé, trong một môi trường bạo lực và đầy hiểm nguy, hệ thần kinh của con người chuyển sang chế độ sinh tồn, bạn buộc phải lựa chọn giữa chạy trốn hoặc chiến đấu, bạn không có thời gian rảnh rỗi để ngồi suy ngẫm về sự trống rỗng của ý nghĩa cuộc đời khi đang bị thú dữ hay kẻ thù rượt đuổi. Nhưng trong một môi trường tĩnh lặng, bình yên đến vô cùng, khi tâm trí không còn hướng ra ngoài để phòng vệ có chủ đích thì ý thức sẽ bắt đầu quay ngược lưỡi dao vào trong. Nó bắt đầu tự soi lại, xét lại chính mình. Và đối với những kẻ mang trong mình đầy rẫy sang chấn, sự trầm cảm hay cảm giác tội lỗi được tích luỹ dần qua thời gian thì quá trình tự xét lại đó chính là một quá trình tự hủy không thể nào đảo ngược. Những bản nhạc piano buồn bã của bộ phim không sinh ra để chữa lành những tâm hồn mong manh. Có thể nhìn nhận rằng chúng đóng vai trò như một không gian vô hình để những tổn thương sâu nhất không thể trốn tránh thêm được nữa, buộc chúng phải trồi lên bề mặt. Nói sao nhỉ, bạn không bị tấn công từ bên ngoài và bạn được đặt vào một không gian an toàn đến mức bạn tự hạ mọi lớp khiên phòng bị xuống, bạn tự mở toang cánh cửa của cõi lòng mình, và khi bạn chợt nhận ra, bạn đã đang đứng chênh vênh trước cái hố sâu đen ngòm trong chính tâm hồn mình mà không còn bất cứ lớp giáp nào che chắn nữa. Sự bình yên ban đầu của phim chỉ là cách ru ngủ tâm trí của người xem để chuẩn bị cho việc bóc trần những vết thương tâm lý đang rỉ máu.

Đây chính là lúc ta phải đập tan cái cách diễn dịch thị trấn này là một thứ được tạo ra dựa trên khái niệm luyện ngục mà rất nhiều người thường ưu ái gán cho tác phẩm. Cứ hình dung thử xem, nếu haibane renmei thực sự chỉ là một câu chuyện về việc chuộc tội để lên thiên đàng, thì bộ phim đã rơi thẳng tắp vào một cái bẫy đạo đức giao dịch vô cùng nông cạn và nhàm chán rồi còn gì? Cái sơ đồ đạo đức ấy diễn ra như sau, bạn làm việc tốt, bạn nhận sự thanh tẩy, và sau đó bạn được thăng thiên đúng không? Lật ngược lại xem nhé, nếu như bạn nhìn tác phẩm qua lăng kính này, bạn đã biến sự phức tạp khủng khiếp của con người thành một hệ thống kế toán tâm linh rành mạch, có chủ đích rồi đúng chứ? Nhưng tác phẩm này phức tạp và tối tăm hơn thế vô vàn, dẫn chứng dễ thấy nhất là sự tội lỗi trong thế giới này không phải là một vi phạm luật lệ thần thánh hay một bản án từ đấng bề trên gì cả. Cái sự ràng buộc của tội lỗi, hiện tượng lông cánh chuyển sang màu đen mang một màu ghê rợn, thực chất là sự biểu đạt vật lý của một trạng thái sụp đổ hoàn toàn về mặt tâm lý và nhận thức.

Một câu đố về vòng tròn tội lỗi là một trong những điểm sáng nhất ở tác phẩm này đối với cá nhân mình. Câu đố đó như sau “Người nhận ra lỗi lầm của mình thì không có tội. Giờ ta hỏi... con có phải một kẻ có tội không?”. Hãy suy ngẫm thật sâu về sự nghịch lý này, nhìn qua thì nó là một cái bẫy logic chết người. Bởi nếu bạn tự mãn mà tin rằng mình không có tội, bạn lập tức trở thành kẻ có tội vì sự kiêu ngạo mù quáng và chối bỏ sự thật đó. Nhưng ngược lại thì sao? Nếu bạn tin rằng mình có tội, theo đúng logic của câu đố, bạn đáng lẽ phải được phán là vô tội rồi đúng chứ? Thế nhưng, chính cái việc bám víu một cách cuồng loạn vào niềm tin rốt ráo rằng tôi là kẻ có tội lại biến bạn thành một tội nhân bị mắc kẹt vĩnh viễn, chẳng phải như thế sao? Đây hoàn toàn không phải là một giáo lý tôn giáo hay một câu đố thiền tông để khai sáng con người. Đây là sự mổ xẻ chính xác đến từng mi-li-mét cơ chế tự hoại của bệnh trầm cảm.

Sự nghịch lý này có một tiền lệ triết học cắm rễ vào tư tưởng của Kierkegaard. Trong cuốn sách The Sickness Unto Death của mình, Kierkegaard đã mô tả sự tuyệt vọng không phải như một loại cảm xúc thoáng qua mang theo sự tồi tệ, mà như một quan hệ cấu trúc nội tại của sự tồn tại. Ông định nghĩa cái tôi như một quan hệ tự liên hệ với chính mình, và sự tuyệt vọng bùng nổ khi cái quan hệ đó bị lệch hay gãy đổ. Theo Kierkegaard thì luôn có một dạng tuyệt vọng sinh ra từ việc không muốn bản thân là chính mình, đó là kẻ ghê tởm bản thân đến mức muốn lột xác thành một ai đó khác, muốn vứt bỏ hoàn toàn cái tôi hiện tại. Đây chính xác là những gì đang cắn xé Reki bởi lẽ cô ghét cay ghét đắng con người thật của mình đến mức phải lén lút dùng sơn xám để nhuộm lên đôi cánh đen đặc của bản thân. Đó là một hành động vật lý hóa sự chối bỏ bản thể theo một cách tàn nhẫn. Cô bé khao khát được trở thành một cánh tro bình thường, một người chăm sóc tốt bụng, một người mẹ hiền từ, cô muốn trở thành bất cứ thứ gì trên đời này ngoại trừ cái phiên bản Reki thối nát mang đôi cánh đen đúa bên trong.

Nhưng đồng thời thì Kierkegaard cũng chỉ ra một dạng tuyệt vọng khác, đó là sự tuyệt vọng vì muốn cố chấp là chính mình. Đó là kẻ khư khư bám víu vào chính danh tính đau khổ và tội lỗi của mình, biến sự mục ruỗng đó thành chiếc thành trì phòng thủ cuối cùng của cái tôi. Sự trớ trêu ở đây đau đến mức tàn bạo là Reki mang cả hai dạng tuyệt vọng này, chúng đồng thời xoắn chặt vào nhau thành một cấu trúc xoáy ốc mà không có bất kỳ lối thoát nào. Cô bé vừa muốn điên cuồng trốn thoát khỏi cảm giác tội lỗi, lại vừa tự tay nhào nặn sự tội lỗi ấy thành danh tính của mình. Giờ thử hỏi, nếu cô bé không còn mang danh là kẻ có tội, thì cô sẽ là ai giữa thế giới rỗng tuếch này cơ chứ? Cái tôi duy nhất mà cô từng có, từng quen thuộc, chính là cái tôi mang tội rồi còn đâu? Đối với một kẻ mang tội thì việc buông bỏ tội lỗi theo một nghĩa nào đó, đồng nghĩa với việc tự xóa sổ chính sự tồn tại của mình rồi. Để khi cảm giác tội lỗi trở thành cốt lõi cái danh tính của Reki, thì cái tôi đang cố gắng thực hiện sự tha thứ cũng chính là cái tôi đang đứng trước vành móng ngựa chờ bị toà kết án. Bạn tự phong cho mình làm kẻ giam giữ, làm vị thẩm phán lạnh lùng, và đồng thời cũng là tên tù nhân khốn khổ của chính bản thân mình. Vòng Tròn Tội Lỗi không phải là một bài kiểm tra để lên con người có thể lên thiên đàng, nó là hình tượng hóa hoàn hảo cho sự bế tắc của một ý thức đã đồng nhất bản thể với nỗi đau.

Điều này giải thích lý do vì sao Reki là nhân vật bi kịch nhất, và tôi khẳng định cô mới thực sự là trung tâm mang sức nặng tư tưởng của toàn bộ cốt truyện chứ không phải Rakka như đa số người xem vẫn nghĩ. Ngoài kia người ta vẫn thường rao giảng những lời khuyên tốt đẹp và sáo rỗng về việc phải học cách tự tha thứ cho bản thân hay những điều đại loại thế. Nhưng nhìn xem? Tác phẩm này đang đập thẳng vào mặt chúng ta một sự thật khó nuốt và tàn khốc hơn gấp vạn lần, đó là ở một mức độ tổn thương định mệnh nào đó, sự tự tha thứ là điều hoàn toàn bất khả thi về mặt cấu trúc. Bởi lẽ ta không thể tự nắm lấy tóc mình để tự nhấc bổng bản thân lên khỏi một vũng lầy được. Reki đã dành biết bao nhiêu năm ròng rã ở Glie làm người chăm sóc. Cô nuôi nấng lũ trẻ mồ côi, che chở và kiên nhẫn hướng dẫn Rakka từ những giây phút bỡ ngỡ đầu tiên khi tới với thế giới này, cô dọn dẹp nhà cửa và nấu những bữa ăn ấm áp cho gia đình nhỏ của mình. Cô đã làm vô vàn việc thiện xuất phát từ bàn tay mình, vậy theo cái logic luyện ngục thông thường đầy tính tính toán kia, cô đã dư sức kiếm đủ điểm tích lũy để chuộc tội và bay lên khỏi bức tường để tới thiên đàng. Nhưng sự thật là gì? Đôi cánh của cô vẫn đen đặc như than, và cô vẫn cứ phải liên tục che giấu sự mục ruỗng bên trong bằng những vệt sơn màu xám tro giả tạo. Ồ, giờ đặt câu hỏi thử xem, tại sao lại như vậy cơ chứ? Chẳng phải vì vấn đề chưa bao giờ nằm ở hành vi, mà nằm ở cái hố sâu nơi hành vi đó xuất phát hay sao? Mở rộng góc nhìn của bản thân ta nhận thấy rằng mọi hành động tốt đẹp, mọi sự hy sinh của Reki không hề xuất phát từ tình yêu bản thân hay tình yêu trong sáng dành cho người khác, mà nó xuất phát từ một sự tuyệt vọng đen tối, từ niềm tin thâm căn cố đế rằng cô là một thứ cặn bã hạ đẳng không đáng được hít thở cùng bầu không khí với những cánh xám khác, những người vẫn giữ được màu xám tro nguyên bản trên đôi cánh của mình. Cô tuyệt vọng lao vào việc cứu rỗi người khác chỉ với một hy vọng mỏng manh rằng những hành động đó sẽ vớt vát lại được chút giá trị cho sự rỗng tuếch của chính bản thân cô. Nhưng đời mà, nó luôn là những câu chuyện bi kịch nhưng lại hài hước khi những nỗ lực tự chứng minh giá trị đó lại chính là bằng chứng tố cáo cô vẫn đang bị cầm tù bên trong cấu trúc của tội lỗi. Cô đang hoang tưởng dùng chính những thanh sắt của nhà tù để cố gắng phá vỡ nhà tù. Nghe nghịch lý và ngu ngốc thật nhỉ, nhưng liệu có đơn giản như thế không?

Heidegger gọi trạng thái này là sự tồn tại phi đích thực. Bởi nó không phải là đạo đức giả theo nghĩa thông thường, mà là sống theo cách mà Heidegger gọi là das Man, tức là cái người ta(tạm dịch). Das Man là khi ta hành động theo cách mà người ta thường làm, suy nghĩ theo chuẩn mực người ta thường nghĩ, đóng trọn vẹn vai diễn mà người ta kỳ vọng về một con người, mà không bao giờ thực sự đủ dũng khí để đối diện với sự tồn tại của chính mình trong tính cá biệt độc nhất. Rất rõ ràng khi ta thấy được rằng Reki sống theo cái tư tưởng das Man suốt nhiều năm dài đằng đẵng. Cô làm chính xác những gì người ta phải làm để được coi là một người tốt, nhưng tất cả những sự hy sinh đó chỉ là một vai diễn, một chiến lược sinh tồn tâm lý tinh vi, chứ không phải là sự đối diện đích thực với cõi lòng. Lớp sơn xám phủ lấp lên đôi cánh đen kia chính là ẩn dụ vật lý hoàn hảo cho sự phi đích thực đó, bề ngoài ngoan ngoãn tuân thủ, bên trong mục ruỗng thối rữa. Và căn phòng vẽ tranh bí mật ngập ngụa mùi sơn của Reki chính là nơi duy nhất trên thế giới này cô cho phép mình được thành thật với con người của mình. Những bức tranh méo mó, điên loạn, gào thét và tràn ngập bóng tối, đó chính là khuôn mặt thật sự của Reki mà cô đã giấu nhẹm đi khỏi ánh sáng mặt trời, khỏi tất cả những tồn tại khác bên trong căn nhà. Chính căn phòng đó là hiện thân của vô thức, của cái phần bản thể mà ta luôn điên cuồng đè nén, từ chối thừa nhận nhưng vĩnh viễn không bao giờ có thể cắt bỏ, Reki là một người như thế đấy.

Vậy nếu tự tha thứ là một điều bất khả thi, thì thứ gì trên đời này có thể đập tan cái Vòng Tròn Tội Lỗi kia? Tác phẩm đưa ra một câu trả lời mà nhiều bài phân tích đã làm cho nó trở nên nông cạn khi gán cho nó cái mác tình bạn cứu rỗi, phải nói nó vừa nông vừa nực cười, đạp đổ hết những giá trị của tác phẩm, tại sao tôi nói thế à? Nhìn đi, cao trào của phim không phải là khoảnh khắc Reki chợt bừng tỉnh nhận ra chân lý, mỉm cười nhẹ nhõm và buông bỏ oán hận, cái kịch bản đó ngay từ đầu đã không hề tồn tại? Điều đã xảy ra tàn khốc, đau đớn và mang sức nặng tâm lý lớn hơn thế rất nhiều. Ở đây, tư tưởng của Levinas trở thành chiếc chìa khóa vạn năng cho vấn đề mà chúng ta đang tìm, ông khẳng định rằng đạo đức học không bắt đầu từ sự suy ngẫm của cái tôi đơn độc, mà nó bắt đầu từ sự va chạm với Others(kẻ khác). Levinas gọi khoảnh khắc thiêng liêng và đáng sợ này là cuộc gặp gỡ với Visage tức Khuôn Mặt. Khuôn mặt của kẻ khác không phải là cái mũi, cái miệng hay đôi mắt theo tính chất vật lý. Khái niệm khuôn mặt ở đây là sự hiện diện trần trụi, yếu đuối, không thể quy giản của một ý thức khác đang đứng sừng sững trước ta và đặt ra một đòi hỏi một thứ đạo đức vô điều kiện. Nó như đang gầm lên trong câm lặng rằng xin đừng giết tôi, xin đừng bỏ rơi tôi, hãy nhìn tôi đi…. Bạn không thể biến khuôn mặt thành một khái niệm lý trí, không thể dán nhãn nó, không thể sở hữu nó, bạn chỉ có thể đón nhận nó bằng toàn bộ sự tồn tại của mình.

Cảnh Reki sụp đổ giữa căn phòng vẽ tranh điên loạn ở tập cuối chính là một cuộc chạm trán với khái niệm khuôn mặt theo đúng nghĩa của Levinas. Nhân vật Reki khi bị dồn vào tận cùng của sự tuyệt vọng và điên loạn, đã tự tay bóc bỏ mọi lớp sơn ngụy trang, xé nát mọi tấm mặt nạ của sự dịu dàng giả tạo để phơi bày khuôn mặt thật của mình trước Rakka. Cô để lộ toàn bộ sự xấu xí, sự phẫn uất, sự giả dối, và nỗi ghê tởm bản thân đặc quánh. Cô thẳng thừng thú nhận rằng cô đã chăm sóc Rakka chỉ vì sự ích kỷ bẩn thỉu, vì cô hy vọng Rakka sẽ là công cụ hoàn hảo để cô chuộc lại tội lỗi của mình. Reki phơi bày phần bóng tối nhớp nhúa nhất với một sự xác tín ráo hoảnh rằng Rakka sẽ hoảng sợ và quay lưng bỏ chạy, bởi lẽ đó là hình phạt duy nhất mà Reki tin rằng mình xứng đáng được nhận. Nhưng Rakka đã không quay lưng lại mà thay vì chạy trốn như dự đoán, Rakka tiến tới và ôm chầm lấy Reki.

Và đây là điều quan trọng nhất mà ta tuyệt đối không được hiểu sai, Rakka không hề ban phát sự tha thứ cho Reki. Rakka không phải là chúa, không phải thánh nhân gì, cô bé không có bất kỳ quyền năng hay thẩm quyền thần thánh nào để phán xử hay tẩy trắng tội lỗi của một cá nhân khác. Rakka cũng không hề nói câu em tha thứ cho chị hay tương tự thế mà thay vào đó, Rakka tuyên bố một sự thật đau lòng nhưng mạnh mẽ, rằng tên của cô, giấc mơ trong kén của cô là được nâng đỡ bởi đôi cánh của Reki. Những gì Rakka làm không phải là dùng phép màu xóa bỏ quá khứ đen tối của Reki bởi điều đó là bất khả thi với bất kỳ ai. Chính vì thế điều Rakka làm là không bỏ chạy, cô đã chứng kiến toàn bộ sự xấu xí tột cùng, sự sụp đổ thảm hại của người chị gái mà cô yêu thương và thay vì biến Reki thành một tội nhân để phán xét hay một bài toán để giải quyết, Rakka chỉ đơn thuần đứng đó và khẳng định sự tồn tại của Reki. Em biết chị đang sụp đổ, em biết chị xấu xí và em đã thấy rõ ràng từng góc khuất tăm tối nhất của chị, nhưng em vẫn khẳng định rằng sự hiện diện của chị ở thế giới này đối với em là vô giá. Reki không được giải thoát vì cô bỗng nhiên trở nên trong sạch mà cô được giải thoát vì cô đã trở thành một thực thể có ý nghĩa và giá trị đối với một kẻ khác, và cái vị trí mới này hoàn toàn nằm ngoài tầm kiểm soát của Vòng Tròn Tội Lỗi.

Levinas gọi thứ cấu trúc này là trách nhiệm bất đối xứng được biểu hiện dưới dạng tôi có trách nhiệm với người khác trước khi người khác có trách nhiệm phải đền đáp tôi. Rakka cứu Reki không phải vì một giao dịch có qua có lại, mà vì sự hiện diện trần trụi và yếu đuối của khuôn mặt Reki đã đặt ra một sự đòi hỏi mà Rakka không thể nhắm mắt làm ngơ. Sự cứu rỗi ở đây không mang tính thần thánh siêu việt hay gì cao siêu mà nó mang tính liên chủ thể. Triết lý của tác phẩm tát thẳng vào mặt chúng ta một sự thật rằng con người không bao giờ có thể tự định dạng và tự chữa lành hoàn toàn trong một căn phòng cô lập với thế giới và mọi người. Nhưng sự dũng cảm phi thường ở đây không chỉ thuộc về người dang tay ra, sẵn sáng ôm lấy người khác. Sự dũng cảm lớn nhất và khó khăn nhất lại thuộc về Reki. Một người dám phơi bày phần tối của mình, dám để cho mình trở nên vô cùng yếu đuối, thảm hại trước mặt một người khác, dám mở miệng thốt ra cái câu mà bất kỳ kẻ chán ghét bản thân nào cũng sợ hãi hơn cả cái chết, đó là cầu xin ai đó hãy cứu tôi. Nếu Reki vẫn ngoan cố giấu giếm khuôn mặt thật của mình sau những lớp sơn xám giả tạo kia thì Rakka sẽ vĩnh viễn không thể làm gì được, bởi vì cô không biết gì cả. Sự chấp nhận ở đây đòi hỏi một cái giá từ cả hai phía, một kẻ với tâm hồn mục nát sẵn sàng phơi bày sự thảm hại của bản thân, và phía bên kia là một kẻ xót xa sẵn sàng đứng lại chịu đựng cùng. Cách xem phim với tư tưởng luyện ngục thất bại thảm hại ở chỗ nó giao nộp cơ chế cứu rỗi vào tay một hệ thống giao dịch siêu hình lạnh lẽo, trong khi tác phẩm lại dùng mọi nỗ lực để đặt sự ân sủng đó vào vòng tay trần tục của con người. Không hề có thượng đế nào can thiệp từ trên những tầng mây cao tít trên kia mà chỉ có hai ý thức vụn vỡ đang ôm chầm lấy nhau giữa một căn phòng ngập ngụa mùi sơn và sự điên loạn.

Và sẽ là một thiếu sót nghiêm trọng nếu ta phân tích tác phẩm này mà bỏ qua cái khái niệm đầy tính ám ảnh về ngày rời tổ. Khái niệm của nó được mô tả theo kiểu khi một cánh tro chạm đến một ngưỡng nào đó, họ sẽ bừng sáng và biến mất vào thinh không, vượt ra ngoài bức tường khép kín. Rất nhiều người yêu sự lãng mạn đã gọi đây là lên thiên đàng hay siêu thoát vĩnh hằng. Nhưng tác giả lại khắc họa khoảnh khắc này với một sự mơ hồ và tàn nhẫn đến đáng sợ. Triết gia Heidegger lại một lần nữa mang đến cho ta một công cụ phân tích hoàn hảo với khái niệm Sein-zum-Tode, tức là tồn tại hướng tới cái chết. Heidegger vạch trần ảo tưởng rằng cái chết là một sự kiện chỉ xảy ra ở tận cùng con đường của sự sống. Không hề, rõ ràng cái chết là một khả năng luôn luôn hiện diện, nó rỉ máu và thấm đẫm vào từng khoảnh khắc của sự tồn tại. Nó là khả năng cá nhân nhất vì không ai có thể chết thay được cho bạn, cái chết là không thể né tránh và nó luôn rình rập trong sự bất định tột độ trong từng giây tồn tại của chúng ta. Việc sống đích thực đòi hỏi ta phải phóng chiếu ý thức của mình vào cái chết, không phải theo kiểu bi lụy tối tăm, mà để cho sự hữu hạn rọi một luồng ánh sáng chói lòa vào mọi lựa chọn ở hiện tại.

Chính ngày rời tổ trong thế giới của Glie chính là hiện thân rực rỡ và đẫm lệ nhất của tư tưởng Sein-zum-Tode. Nó không phải là một chiếc cúp vàng trao tay ở cuối trò chơi hay một tấm huy chương giành cho người xuất sắc nhất. Nó là cái khả năng luôn treo lơ lửng như một lưỡi gươm trên đầu mỗi cánh tro mà không có bất kỳ ngoại lệ nào. Hãy nhìn lại cái cách tác phẩm nói chung và các nhân vật xung quanh nói riêng đối xử với sự ra đi của Kuu. Khi em ấy rời đi, cô bé bốc hơi hoàn toàn khỏi thực tại mà không có một tấm thi thể để lại, không có một lời từ biệt đàng hoàng được thốt ra, thứ duy nhất rơi rụng trên thứ mặt đất lạnh lẽo là vầng hào quang vỡ vụn. Trải nghiệm của những người ở lại, đặc biệt là Rakka, hoàn toàn không phải là những tiếng vỗ tay chúc tụng hay sự hân hoan thánh thiện gì cho cam. Trải nghiệm đó là một cú sốc tinh thần, là một sự sụp đổ kinh hoàng xuống tận đáy của sự trống vắng. Rakka gào khóc điên dại, cô co rúm người lại dưới đáy giếng tối tăm, cô trượt dài vào trạng thái làm vấy bẩn đôi cánh của chính mình.

Tác phẩm đã từ chối việc kể cho chúng ta nghe bất kỳ điều gì về thế giới bên ngoài bức tường. Dễ hiểu thôi, bởi đã có ai tận mắt chứng kiến cảnh giới cực lạc đằng sau khối đá khổng lồ ấy đâu? Quá trình cánh tro rời tổ có thể là thiên đường rực rỡ, nhưng ở một góc nhìn khác thì nó cũng hoàn toàn có thể là sự xóa sổ vĩnh viễn mọi dấu vết ý thức về một cá thể đã từng tồn tại ở thị trấn này. Chính sự mơ hồ đáng sợ này đã tái hiện chính xác cái nghịch lý đau đớn nhất của đời người khi mà chúng ta phải sống, phải yêu thương, phải cắn răng chữa lành những vết thương tâm hồn rách nát, chỉ để chuẩn bị sẵn sàng cho một ngày mà toàn bộ sự tồn tại của chúng ta sẽ bị tước đoạt và xóa sổ khỏi thế giới vật lý này. Sự siêu việt trong tác phẩm giả tưởng sẽ luôn đòi hỏi một cái giá bằng máu và nước mắt. Bởi lẽ nó là sự giao thoa giữa sự vinh quang tột đỉnh của linh hồn và sự trống rỗng, sự vắng mặt vĩnh viễn để lại cho những người sống. Kẻ rời tổ có thể tìm thấy bình yên, nhưng những người ở lại thì chắc chắn mang trên mình những vết thương vĩnh viễn không thể khép lại.

Vậy câu hỏi đặt ra là làm sao ta có thể phân tích trọn vẹn kiệt tác này mà không cảm thấy ngôn từ của mình đang dần trở nên bất lực và nghèo nàn đi? Ngay cả những bài phê bình sắc bén nhất cũng thường phải viện đến những tính từ chung chung, bởi lẽ vốn dĩ Haibane Renmei là một tác phẩm vận hành hoàn toàn dựa trên nguyên lý của không gian âm. Cái hay, cái chiều sâu của nó lại không nằm ở những câu thoại triết lý được gào thét lên, mà nó ẩn dật trong những khoảng lặng người. Nó nằm trong cái cách Reki run rẩy châm một điếu thuốc trong đêm tối mờ mịt, trong vệt hoàng hôn đỏ ối hắt cái bóng dài lên những bia mộ gỉ sét nơi Rakka lặng lẽ làm việc, trong tiếng lạo xạo đầy xót xa của một chiếc lá khô bị giẫm nát, và trong cái ánh mắt rỗng tuếch nhưng cuộn trào nỗi đau của Reki khi tự họa chính mình. Anime này không cố gắng nhồi vào đầu bạn bằng những tuyên ngôn đạo đức vĩ đại hay những thứ triết học khô khan. Thay vào đó, nó tàn nhẫn tạo ra một khoảng không tĩnh lặng tuyệt đối nhằm ép bạn phải tự dùng chính những móng tay rớm máu của mình để đào bới lại những trải nghiệm và sang chấn cá nhân hòng lấp đầy những khoảng trống vô hình đó. Việc cố gắng dùng lý trí thông thường để giải mã tác phẩm một cách rành mạch cũng lố bịch và thô bạo y như việc bạn cố dùng kẹp nhíp bằng sắt để gắp một giọt sương buổi sớm. Thứ tạo nên vẻ đẹp của giọt sương ấy sẽ lập tức vỡ vụn dưới cái thứ áp lực của một thứ công cụ/phương tiện vốn không sinh ra để nắm bắt lấy nó.

Oyasumi Punpun nhấn chìm bạn vào một vũng bùn tha hóa để bạn phải rùng mình kinh tởm chính bản thân còn Evangelion thì lại mổ xẻ tâm lý học bằng những hình ảnh siêu thực chói lọi và cũng không kém phần đinh tai nhức óc. Nhưng Haibane Renmei chọn một con đường ngược lại, nó tĩnh lặng, mềm mại và ám ảnh đến tận xương tủy. Nó vẽ ra trước mắt bạn một thế giới tưởng chừng như là thiên đường an toàn tuyệt đối, một khung cảnh như từ trong mơ bước ra và chỉ để lột trần một sự thật phũ phàng rằng không có một bức tường thành nào, dù có cao lớn vững chãi đến đâu, có thể bảo vệ bạn khỏi con ác quỷ đang gầm gừ trong chính tâm hồn của bạn. Nỗi bi kịch lớn nhất của con người không phải là bị xã hội ruồng bỏ, mà bi kịch tuyệt đối là khi bạn nhận ra mình đang được sống trong tình yêu thương vô điều kiện, được những vòng tay ấm áp sẵn sàng nâng đỡ, nhưng sâu thẳm trong thâm tâm, bạn lại rít lên những tiếng kêu thảm thiết rằng mình là một thứ rác rưởi không hề xứng đáng với một hạt bụi của tình yêu mọi người trao cho.

Khi bộ phim khép lại với những nốt nhạc tĩnh tại của track blue flow, thứ đọng lại trong chúng ta không phải là một sự thỏa mãn rẻ tiền của việc giải xong một câu đố giả tưởng hay sự thích thú khi xem được một tác phẩm hay. Thứ nghẹn lại nơi cuống họng là một sự thức tỉnh đầy đau đớn nhưng không thể thiếu, bởi lẽ sự thật mà tác phẩm trao cho chúng ta không phải là một viên thuốc giảm đau êm ái hoặc một sự lãng mạn hoá bi kịch. Bởi nó đã tàn nhẫn lột bỏ sự tự mãn của bạn, buộc bạn phải nhận ra rằng tất cả chúng ta đều là những kẻ mang trên lưng đôi cánh xám xịt chắp vá như những cánh tro trong tác phẩm. Đôi cánh ấy không bao giờ đủ trắng trong để biến ta thành những thiên thần thánh thiện, nhưng cũng chẳng đủ đen đặc để ta có thể dễ dàng buông xuôi làm một ác quỷ thuần túy. Chúng ta cứ mãi lang thang trong cái thế giới đang giam lỏng con người mang tên thực tại này, bị xiềng xích bởi những tội lỗi do chính mình tự huyễn hoặc ra, gánh trên vai những chấn thương vô hình mà có khi ta còn chẳng biết gọi tên chúng là gì. Nhưng tác phẩm không ném ta vào hố sâu tuyệt vọng rồi bỏ đi một cách vô trách nhiệm. Nó đã dịu dàng nắm lấy bàn tay đang run rẩy của bạn, ép bạn phải tự chạm vào những vết nứt nẻ sần sùi ghê rợn trên chính tâm hồn mình để rồi thủ thỉ bằng một giọng nói mỏng manh nhưng kiên định nhất, rằng không sao đâu, dù đôi cánh của bạn có đen khịt, xấu xí và tàn tạ đến mức nào, thì sự tồn tại của bạn ở thế giới này vẫn là một điều có thật, và điều đó đã là quá đủ rồi.

Sự tha thứ, suy cho cùng, chưa bao giờ và sẽ không bao giờ là một phép màu thần thánh được ban phát từ trên cao như phước lành của chúa. Nó là một cuộc thảm sát cái tôi đầy kiêu hãnh và mặc cảm, để rồi từ trong đống tro tàn nguội lạnh của sự sụp đổ ấy ấy, một cái ôm giữa con người với con người có thể được sinh ra. Và cái ôm đó không hề đưa ra một lời hứa viển vông rằng đôi cánh của bạn rồi sẽ trở nên trắng muốt, nó chỉ khẳng định một điều duy nhất rằng ai đó đã nhìn thấu sự đen tối bẩn thỉu của nó, và người đó vẫn chọn cách ở lại.

Bình Luận

Toi Yeu Be Gai 13 Tuoi
Toi Yeu Be Gai 13 Tuoi