Back to blog

Failed Princesses

Giá trị của nỗi đau và hình tượng

Published on 8/10/2024 | Last updated on 3/30/2026

Image

I. Giới thiệu tác phẩm

Failed Princesses, hay Dekisokonai no Himegimi-tachi, của Ajiichi thoạt nhìn có vẻ tuân theo một motif học đường quen thuộc: Fujishiro Nanaki, cô gái rạng rỡ nhất lớp, và Kurokawa Kanade, nữ sinh nhút nhát luôn tự xem mình là nền, tình cờ bị kéo vào quỹ đạo của nhau. Tuy nhiên, lớp vỏ bọc ấy nhanh chóng bị tước bỏ. Điều Ajiichi thực sự khảo sát không chỉ là tình yêu giữa hai cô gái, mà là cách con người học cách nhìn chính mình thông qua các hệ thống phân loại đang bủa quanh họ: từ ngoại hình, vị thế trong lớp, cho tới ý niệm về trưởng thành, nữ tính và sự xứng đáng.

Từ điểm xuất phát đó, tác phẩm đặt ra đồng thời ba câu hỏi. Thứ nhất, nỗi đau của tuổi trẻ có phải là một thứ có thể bị hạ thấp chỉ vì nó xảy ra ở giai đoạn bị xem là non nớt hay không. Thứ hai, hình tượng mà xã hội áp lên con người có phải là sự thật cuối cùng về họ hay không. Thứ ba, trang điểm và sự tự trình hiện bản thân là một hình thức đầu hàng trước chuẩn mực, hay có thể trở thành cách giành lại quyền định nghĩa chính mình. Cần làm rõ rằng các tham chiếu trong trong bài viết này không nhằm tạo một tầng trang sức học thuật cho manga. Chúng được sử dụng như những điểm tựa phương pháp để làm rõ ngôn ngữ riêng của Ajiichi, từ cách tác phẩm bảo vệ giá trị của nỗi đau, phê phán việc thần thánh hóa hình tượng, cho tới cách nó dùng khung tranh, khoảng trắng và lớp trang điểm như những hình thức tư duy.

Đặt theo hướng đó, tác phẩm này không phải chỉ là một câu chuyện chữa lành hay một romance học đường có chủ đề Yuri. Nó là một khảo sát về quyền được cảm nhận, quyền được thay đổi, và quyền được tồn tại ngoài những vai diễn mà xã hội đã chuẩn bị sẵn cho mỗi người. Chính từ tiền đề ấy, bài viết sẽ lần lượt đọc tác phẩm qua giá trị của nỗi đau, lịch sử và mỹ học của hình tượng thiếu nữ, rồi đi tới trang điểm như một bài thực hành vừa xã hội vừa nhưng cũng mang nét hiện sinh.

II. Giá trị của nỗi đau

1. Tầm quan trọng của nỗi đau

Nỗi đau của tuổi trẻ luôn là một trải nghiệm đơn độc và không ai thực sự hiểu được. Khi chúng ta lớn lên và trở thành người trưởng thành, những nỗi đau này dường như trở nên nhỏ bé và thậm chí lố bịch trong mắt người khác. Họ có thể nhớ lại mà không cảm thấy sợ hãi hay day dứt. Tuy nhiên, đối với những người trẻ tuổi đang ở trong giai đoạn khó khăn và đau khổ này, họ phải đối mặt với những thách thức to lớn đó là làm sao để vượt qua nỗi đau để có thể tiếp tục sống. Bởi không có một ai hướng dẫn hay chỉ cho họ biết rằng họ phải làm gì. Một số người thậm chí còn cảm thấy tuyệt vọng đến mức nổi loạn hoặc tìm đến cái chết. Và khi bi kịch đã xảy ra, dù mọi người có tiếc nuối và cho rằng nếu cô gái đó sống thêm một thời gian nữa, trưởng thành hơn một chút, cô ấy sẽ hiểu ra mọi điều, nhưng với người đã khuất, đó là nỗi đau không thể chịu đựng nổi. Trích quan điểm của Dazai Osamu

Nhà phê bình văn học Lee O-young từng chỉ ra rằng chức năng của một chiếc quạt xếp có thể mở ra và gấp lại dường như nắm giữ số phận của cả một thế giới. Bởi khi ta mở nó ra, nó như đang thổi làn gió mới đến vạn vật. Khi gấp lại, nó như đang thu gọn mọi thứ vào bên trong nó. Cầm chiếc quạt xếp trong tay, con người như đang nắm giữ cả một thế giới thu nhỏ, một thế giới trừu tượng và bí ẩn. Qua đó, người Nhật có thể trải nghiệm và cảm nhận thế giới một cách gần gũi và cụ thể hơn. Đây chính là "ý thức thu nhỏ" mà chiếc quạt xếp mang lại tức xu hướng của người Nhật trong việc tiếp cận sự vật, kéo chúng lại gần mình và nắm bắt chúng trong tay, dựa vào trải nghiệm và cảm nhận trực tiếp để nhận thức thế giới, thay vì chỉ dựa vào lý trí hay suy nghĩ trừu tượng. Điểm đáng chú ý ở đây không phải bản thân chiếc quạt xếp như một biểu tượng văn hóa đứng riêng lẻ, mà là kiểu nhận thức mà nó hàm ý. Thay vì đo sự vật bằng những thang bậc trừu tượng và phổ quát, ý thức thu nhỏ kéo kinh nghiệm lại gần chủ thể, giữ nó ở bình diện cụ thể của cảm giác đang diễn ra. Đặt trong Failed Princesses, lối nhìn ấy giúp ta hiểu vì sao Ajiichi kiên quyết từ chối xem tổn thương hồi mẫu giáo của Kurokawa là một chuyện vặt chỉ vì nó xảy ra ở một giai đoạn bị coi là non nớt. Tác phẩm kéo nỗi đau ấy lại gần bàn tay người đọc, buộc ta nhìn nó như một thế giới thu nhỏ nhưng trọn vẹn về cường độ.

Image

Trong chap 36, Kurokawa Kanade tâm sự với Fujishiro Nanaki rằng:

Tớ đã buồn vì không thể diễn vai công chúa, và tớ đã cảm thấy nhục nhã vì mình đã có ý nghĩ như vậy, nhưng trên hết...Cái ký ức hồi còn nhỏ ấy cứ mãi ám ảnh tớ, rồi khiến tớ tự ghét bỏ chính bản thân mình. Dù nó thật tầm thường, nhưng vẫn cứ làm tớ không thể quyết định mọi thứ một cách đúng đắn, nó luôn khiến tớ cảm thấy bản thân thật nhục nhã.

Lời nói này của Kurokawa cho thấy mặc cảm của cô bắt nguồn từ việc bị bạn học cho rằng cô không phù hợp để đóng vai công chúa từ hồi mẫu giáo, có thể là vì con nít đôi khi rất vô tâm, chúng chỉ nhìn nhận những thứ nổi bật bề ngoài như ngoại hình, biểu cảm,... Tuy nhiên, điểm then chốt của lời tâm sự này nằm ở thứ trật tự được nhấn mạnh như một lý do để cô phủ định chính bản thân.

Sau khi chuyển hướng câu chuyện, Kurokawa đã đặt ra câu hỏi liệu nỗi đau có đáng được quan tâm hay không? Bằng cách gọi nỗi đau của bản thân là thứ nhỏ nhặt. Việc cô liên tục gợi nhớ cũng như nhấn mạnh thời còn nhỏ cũng là một cách để cô cho rằng bản thân đã trưởng thành qua thời gian và lẽ ra phải có sự từng trải để đối mặt với quá khứ, tập trung vào hiện tại là điều quan trọng hơn. Loại suy nghĩ kiểu như lẽ ra này hòa hợp với cách cô phân biệt các giai đoạn tuổi tác khác nhau bằng các hình tượng bên ngoài và phổ quát.

Nói chính xác hơn, lối nghĩ của Kurokawa tổ chức đời sống theo một mô hình tiến hóa luận ngầm. Mỗi độ tuổi bị gắn với một hình tượng và một chuẩn cảm xúc riêng, rồi toàn bộ trải nghiệm bị xếp hạng theo trục ấy. Tuổi thơ trở thành thứ phải vượt qua, còn trưởng thành được xem như nơi duy nhất của lý trí, của giá trị và của nỗi đau hợp lệ. Khi đó, vấn đề không còn là Kurokawa có đau hay không, mà là nỗi đau ấy có được xã hội cho phép tồn tại như một nỗi đau nghiêm túc hay không. Để hiểu rõ hơn cơ chế này, cần nhắc tới khái niệm vật thần của Yamamoto Shichihei. Vật thần ở đây không chỉ một thần linh hay vật thờ cụ thể, mà chỉ bất kỳ giá trị nào bị tuyệt đối hóa đến mức được đối xử như chân lý tự đủ để rồi từ đó quay ngược lại phán xét mọi hoàn cảnh khác. Khi "sự trưởng thành" bị nâng lên thành một vật thần như thế, con người sẽ vô thức dùng nó để đo mọi cảm xúc, mọi ký ức và mọi tổn thương. Chính Yamamoto đã nhận định:

Cần phải liên tục nắm bắt nhận thức và trải nghiệm của chúng ta về ý nghĩa và giá trị của bản thân trong thế giới này. Tuy nhiên, ông cho rằng cảm giác về sự tồn tại này không tự nhiên mà có, mà nó được tạo ra từ mối quan hệ giữa con người với một vật thần (có thể hiểu là một thực thể siêu nhiên, một ý tưởng, hay một giá trị tối thượng nào đó) vốn tự túc về mục đích, tức là tự nó đã mang một ý nghĩa và giá trị nhất định. Và vấn đề nảy sinh khi chúng ta áp đặt logic của mối quan hệ với vật thần này lên tất cả các mối quan hệ khác trong cuộc sống. Khi đó, chúng ta sẽ có xu hướng tuyệt đối hóa cảm giác tồn tại của mình, và mặc nhiên coi nó như một chân lý bất biến và áp dụng nó một cách máy móc, cứng nhắc vào mọi hoàn cảnh. Và điều này dẫn đến sự khép kín và thiếu linh hoạt trong tư duy, khiến chúng ta khó có thể thích nghi và đối diện với sự đa dạng, phức tạp của thế giới. Nó cũng có thể dẫn đến sự áp đặt và phán xét những quan điểm, giá trị khác biệt, gây ra xung đột và chia rẽ trong các mối quan hệ xã hội.

Trong Failed Princesses, mặc cảm của Kurokawa cho thấy cơ chế này vận hành ở cấp độ nội tâm một cách rõ nét. Xã hội không chỉ khuyên con người nên trưởng thành mà nó còn âm thầm gán cho sự trưởng thành địa vị của một giá trị tối cao, như thể chỉ những gì phù hợp với hình dung về chủ thể trưởng thành mới đủ tư cách được coi là nghiêm túc. Khi chuẩn mực ấy được tuyệt đối hóa, các tổn thương thời thơ ấu dễ bị hạ thấp thành điều phải tự vượt qua một cách im lặng. Kurokawa vì thế không chỉ đau vì ký ức cũ mà cô còn xấu hổ vì vẫn còn đau bởi ký ức ấy. Và cơ chế này không cần vận hành bằng cấm đoán trực tiếp. Nó hoạt động bằng cách dựng nên một hệ thống phân cấp cho cảm xúc, quyết định nỗi đau nào là trưởng thành, nỗi đau nào là trẻ con, nỗi đau nào đáng được công nhận và nỗi đau nào đáng bị xem nhẹ. Khi nội hóa logic đó, Kurokawa không còn cần ai phủ nhận mình nữa bởi cô đã tự làm công việc ấy cho chính bản thân. Bi kịch của cô vì vậy không chỉ nằm ở sự xúc phạm trong quá khứ, mà ở việc cô bị buộc phải đọc lại quá khứ ấy bằng một thước đo vốn chưa từng công bằng với mình.

Việc dùng tiêu chuẩn của sự trưởng thành để tước bỏ ý nghĩa của những cảm xúc này là điều vô cùng phi lý. Trong tác phẩm Nữ sinh(Joseito), Dazai Osamu đã sử dụng góc nhìn độc thoại của một nữ sinh để chất vấn sự trưởng thành như vậy. Bởi cho dù có các tiêu chuẩn khác có thể khiến mọi thứ trong thời thanh xuân trở nên không quan trọng, nhưng sự bối rối và đau khổ của các cô gái về việc phải sống như thế nào cũng không vì thế mà giảm đi. Trong việc miêu tả nỗi đau mà thiếu nữ phải gánh chịu, thái độ căn bản của 'Failed Princesses' là từ chối mọi ý đồ dùng hoàn cảnh vật thần hóa để giải thích nó. Cuối cùng, Nanaki cũng hiểu được lý do khiến Kurokawa bị tổn thương. Trong tập 36, cô đã tâm sự với Kurokawa như sau:

...Nghe này Kurokawa, đó không phải là chuyện nhỏ đâu. Bởi nếu nó có thể khiến cậu tổn thương thì đó chắc chắn không phải là chuyện tầm thường. Dù vậy, ai cũng sẽ buồn thôi, khi mà người họ yêu quý lại nói những lời kinh khủng như vậy. Những trái tim bị tổn thương, luôn có mặt ở khắp mọi nơi, với thế giới này thì đó có thể được coi là một chuyện tầm thường… Kể cả khi những ký ức đau buồn ấy vẫn tiếp tục đeo bám cậu, hãy nhớ rằng không có lý do gì để cậu phải cảm thấy nhục nhã cả, những lời đó sẽ làm tổn thương bất kỳ ai nghe phải thôi. Vì vậy nên, cậu không có lý do gì để tự ghét bỏ bản thân mình cả...

Lời an ủi chân thành của Nanaki đã thể hiện một cách nhìn nhận hoàn toàn khác về nỗi đau của Kurokawa. Thay vì coi những tổn thương đó là nhỏ nhặt hay không đáng kể theo các tiêu chuẩn chung của xã hội, Nanaki khẳng định rằng chúng hoàn toàn có ý nghĩa và giá trị đối với chính Kurokawa. Cô nhìn nhận nỗi đau của bạn mình một cách nghiêm túc và đồng cảm, thay vì phủ nhận hay hạ thấp nó. Điều này cho thấy tầm quan trọng của việc lắng nghe và tôn trọng cảm xúc của người khác, đặc biệt là ở lứa tuổi còn non nớt và dễ bị tổn thương như trường hợp của hai cô gái. Và thay vì áp đặt các chuẩn mực hay kỳ vọng của người lớn lên họ, chúng ta cần cố gắng thấu hiểu và đồng hành cùng họ trong hành trình trưởng thành. Bởi lẽ, mỗi cá nhân đều có những trải nghiệm và cảm nhận riêng, và không ai có quyền phán xét hay coi thường nỗi đau của người khác.

2. Sức mạnh của ngôn từ

Ajiichi, thông qua sự bày tỏ chân thành của Fujishiro Nanaki, đã phác họa ra kết cấu của ngôn từ, cụ thể là nỗi tổn thương mà Kurokawa phải chịu chính là bắt nguồn từ chất liệu trong lời nói mà triết gia Washida Kiyokazu đề cập. Sức nặng của lời nói không nằm ở nghĩa từ điển thuần túy, mà ở việc nó gặp đúng vết thương, đúng thời điểm, đúng trạng thái thân thể. Cụ thể trong chap 10, sự chế giễu của Miki về việc cô ấy không thể ngang hàng với Nanaki đã kích thích vết thương mặc cảm tự ti của cô ấy, biểu cảm của cô ấy thể hiện sự dao động mạnh mẽ, kết hợp với hộp thoại đen đậm và khung chia cắt xám xịt vội vàng như một phương thức biểu đạt, điều này cho thấy lời nói không chỉ đơn thuần là lời nói mà còn được gợi ý cụ thể hơn như một sự thật đang xâm nhập vào nhân vật. Cần lưu ý rằng, lời nói ở đây không chỉ phát huy sức mạnh bằng chính bản thân nó, cần phải xem xét sự dao động của Kurokawa trong chap 10 trước hết là do ngôn ngữ như vậy chạm đến tâm trạng lúc đó của cô ấy, khi Nanaki trong chap 1 sau khi thất tình và được Kurokawa an ủi kịp thời, cô còn có lời tâm sự như sau:

Đúng là Kurokawa, người nói ra những lời tôi muốn nghe nhất lúc này.

Đây tuyệt đối không phải là sự tiếp nhận ở tầng ý nghĩa khái niệm, hiệu lực đơn thuần, mà thực chất cơ sở để ý nghĩa của lời nói có thể phát huy chắc chắn chỉ có thể được thiết lập khi phù hợp với tâm trạng của người nghe vào ngay lúc đó, sự gặp gỡ giữa nhân vật và lời nói trong tác phẩm này chỉ xảy ra trong không gian trải nghiệm thực tế. Ý thức thu nhỏ được thể hiện ở đây hoàn toàn không phải là theo đuổi sự nhỏ bé, mà đó chỉ có thể là sự bài xích đối với hệ thống. Kurokawa đã nói rằng:

Nếu là tôi trước đây, chắc chắn sẽ không chịu đựng nổi bầu không khí như vậy. Bây giờ so với chuyện này, tôi quan tâm đến Fujishiro hơn.

Từ ngữ sẽ phát huy tác dụng trên nền tảng, trường hợp cụ thể. Thái độ của Nanaki cho rằng nỗi đau là điều không thể đong đếm, định lượng được, đã góp phần khẳng định vị trí trung tâm của khả năng diễn đạt trong tác phẩm này. Về bản chất của việc không thể định lượng của cảm nhận, trước hết nó phủ nhận sự phân chia trật tự theo độ tuổi, bởi lẽ ở bất cứ độ tuổi nào, mỗi cuộc gặp gỡ, va chạm trong đời người cũng chỉ có chủ thể đang trải qua nó vào ngay thời điểm đó mới là sự tồn tại duy nhất của nó. Trải nghiệm chỉ thực sự có ý nghĩa khi nó chạm đến và đồng điệu với chủ thể. Nếu tách rời trải nghiệm khỏi cách mà chủ thể cảm nhận và định giá nó, thì chắc chắn sẽ chỉ dẫn đến những kết luận sai lệch. Đi sâu hơn nữa vào chủ đề này, có thể thấy rằng việc phản đối lối suy nghĩ phớt lờ những giai đoạn tuổi tác cụ thể này cũng chính là tái khẳng định sự toàn vẹn của sự tồn tại. Sống luôn là một chân lý bất biến với mọi lứa tuổi, không có giai đoạn nào của cuộc đời được coi là có giá trị hơn giai đoạn nào. Vì thế, sẽ thật thiếu sót nếu chỉ nhìn nhận tác phẩm này như một sự thể hiện sự non nớt, chưa trưởng thành hay phóng đại quá mức, kịch tính hóa cuộc sống của tuổi trẻ hay những điều tương tự như vậy. Đó chẳng qua chỉ là sự xác nhận một thực tế rằng người ta đang vô hiệu hóa sự tồn tại dựa trên quan niệm về sự trưởng thành đầy đủ lý trí và nhận thức. Và cũng chính nhận thức cho rằng mỗi mối quan hệ là duy nhất và không thể thay thế đã bác bỏ quan niệm vật thần hóa con người thành những hình tượng bất biến.

Con người luôn thay đổi! Đúng là Nanaki đã thay đổi, nhưng đó lại chính là điều cô ấy mong muốn. Chắc chắn là để được ở bên Kanade.

Izumi cũng nhấn mạnh sự mâu thuẫn giữa một hình tượng tự thân bất biến với bản chất luôn biến đổi của con người. Điều đáng lưu ý là hình tượng của một người cũng thay đổi theo cảm xúc của họ. Và chính nghệ thuật thể hiện điều này của tác phẩm đã gắn liền với câu chuyện mà nó kể. Tuy nhiên, nỗi đau trong Failed Princesses không chỉ được trao trả tính hợp lệ qua ngôn từ. Manga còn đi xa hơn khi khắc chính trạng thái dao động ấy lên bố cục của trang truyện, nơi mà cảm xúc không chỉ được kể lại mà còn được vật chất hóa bằng nhịp khung, độ nghiêng, khoảng trắng và sự phân mảnh của hình ảnh.

3. Nghệ thuật vẽ truyện

Image

Nanaki, trong một khoảnh khắc phản tư về hành động tự tay tác động vật lý lên giáo viên ở chap 9, đã nói rằng:

Khi lấy lại được nhận thức, thì cơ thể của mình đã tự cử động rồi.

Câu nói này không chỉ miêu tả riêng trường hợp của Nanaki, mà còn đúc kết chung cho tất cả những lần nhân vật không kiểm soát được bản thân trong tác phẩm. Đó là khi cảm xúc đã lấn át, chi phối hành động, vượt qua sự kiểm soát của lý trí.

Image

Đặc trưng của manga shoujo là những khung hình nghiêng, tạo cảm giác khẩn trương và gia tăng tốc độ câu chuyện. Tuy nhiên, vai trò của chúng không chỉ dừng lại ở việc định hình phong cách của thể loại này. Ví dụ như ở chap 9, khi Nanaki ôm Kurokawa, cách bố trí liên tiếp các khung hình nghiêng của tác phẩm đã tạo ra cảm giác vỡ mảnh, rời rạc. Cùng với dòng độc thoại Đầu óc trống rỗng..., nó cho thấy cái ôm ấy xuất phát từ xúc cảm thuần túy chứ không qua sự cân nhắc, tính toán của lý trí hay một mục đích cụ thể nào đó. Và khi thiếu đi sự kiểm soát của lý trí, hành động của Nanaki không thể bị quy kết là xuất phát từ một mục đích cụ thể nào. Và thay vì miêu tả hành động ôm, ở đây chúng ta thấy được cảm xúc khi hai người ôm nhau - thứ cảm xúc mãnh liệt mà ngay cả bản thân Nanaki khi đó cũng chưa thể nào hiểu thấu.

Trong chap 29, khoảng thời gian Nanaki và Kanade cùng đi mua sắm được khắc họa qua những khung hình tưởng chừng lơ lửng, không theo thứ tự thường thấy, và được bao bọc bởi khoảng trắng trang trí. Cách sắp đặt này khiến những trải nghiệm, những cảm xúc dường như đan xen, hòa quyện vào nhau, từ đó phá vỡ trật tự thời gian vốn có và xóa nhòa đi ranh giới của các sự kiện. Nghệ thuật trong cách vẽ này khiến cho khoảng thời gian ấy như được đông cứng lại, trở thành một tổng thể không thể chia cắt, một sự tồn tại độc lập và đáng trân trọng. Câu than thở của Nanaki:

Mải mua sắm mà quên để ý thời gian rồi...

Câu nói này không đơn thuần là một cách nói ẩn dụ về một ngày trôi qua nhanh chóng. Nó cho thấy với những việc quan trọng như nhau, với những cảm xúc đong đầy như nhau, thời gian được cảm nhận một cách rất khác. Sự khác biệt vốn tạo nên cảm nhận về thời gian dường như biến mất, còn lại chỉ là một chuỗi khoảnh khắc đặc biệt, một dòng cảm xúc mãnh liệt không ngừng chảy xiết giữa hai tâm hồn.

Ngoài lời thoại, tác giả còn sử dụng nhiều phương tiện trực quan để khắc họa tâm trạng nhân vật, chẳng hạn như đường chéo và mảng tô đen. Việc tận dụng cả khung hình, thậm chí cả trang truyện để thể hiện cảm xúc cho thấy nỗ lực của tác giả trong việc truyền tải trạng thái nội tâm một cách mạnh mẽ và sinh động nhất. Đáng chú ý có thể kể đến sự xuất hiện của khoảng trắng giữa các khung hình. Nó đóng vai trò không kém phần quan trọng so với hộp thoại trong việc thể hiện sự tương phản giữa cảm xúc bên trong và biểu hiện bên ngoài của các nhân vật. Chẳng hạn ở chap 31, tác giả đã khéo léo sử dụng khoảng trắng để cho thấy lời chúc mừng của Nanaki trước tin Kurokawa có thể sẽ có bạn trai thực chất là những lời nói trái ngược với tâm can của cô ấy. Và phong cách này cũng cho thấy sự công bằng trong cách tác giả đối xử với mọi cung bậc cảm xúc. Không có tình cảm nào bị coi nhẹ, phớt lờ và ngược lại, chúng đều được thể hiện một cách chân thực và sâu sắc nhất. Điều này tạo nên một thế giới nội tâm phong phú, đa dạng và liên tục biến đổi, đối lập với những khuôn mẫu cứng nhắc và bất biến vốn tồn tại trong nhiều quan niệm truyền thống. Và bằng cách tận dụng khung hình như một công cụ thể hiện sự chuyển động của môi trường và thời gian, tác giả đã cho thấy cách mà dòng chảy của thời gian nội tâm đã chiếm lĩnh và chi phối thời gian thường nhật vốn mang tính hệ thống và tuần tự. Sự chuyển đổi liên tục của tình cảm và hình ảnh không chỉ được thể hiện một cách chủ quan, mà còn được gắn liền với bối cảnh, với những ràng buộc và tác động của hoàn cảnh khác nhau. Điều này được thể hiện qua việc tác giả không chỉ dựa vào lời thoại, mà còn tận dụng cả ngôn ngữ hình ảnh để truyền tải thông điệp của tác phẩm.

Một đặc trưng nổi bật khác của phong cách truyện tranh này là đôi mắt to, sáng và tinh tế của các nhân vật, vốn là đặc trưng quen thuộc trong manga shoujo. Đôi mắt ấy không chỉ là một chi tiết mang tính thẩm mỹ đơn thuần, mà còn mang một ý nghĩa sâu sắc hơn - chúng tượng trưng cho khả năng cảm nhận và thấu hiểu vượt ra ngoài những gì thông thường. Sự kế thừa và phát triển này một lần nữa khẳng định mối liên hệ mật thiết giữa tác phẩm với truyền thống manga shoujo nói riêng và văn hóa nghệ thuật Nhật Bản nói chung. Ngôn ngữ thị giác này không xuất hiện trong khoảng trống lịch sử. Những đôi mắt lớn, khoảng trắng trữ tình, và việc để cảm xúc vượt ra khỏi trật tự hiện thực thường nhật đều nối Ajiichi với một lịch sử dài của shōjo. Vì vậy, để hiểu tại sao Failed Princesses có thể biến cảm giác chủ quan thành một hình thức nhận thức, cần đặt nó trở lại trong dòng chảy của khái niệm thiếu nữ ở Nhật Bản.

4. Vị trí của khái niệm thiếu nữ ở Nhật Bản.

Nhà văn Dazai Osamu từng nhận định rằng học sinh là một nhóm không nắm giữ quyền lực thực sự trong xã hội, nhưng đồng thời lại có đặc quyền được tự do thụ hưởng tri thức. Quan điểm này của ông phù hợp với nguồn gốc lịch sử của khái niệm thiếu nữ. Ngược dòng lịch sử, vào thời gian trước thời Minh Trị, ranh giới giữa trẻ em và người lớn khá mờ nhạt, và chỉ khi đủ tuổi kết hôn hoặc tham gia lao động nông nghiệp, một người mới được coi là đã trưởng thành. Tuy nhiên, sau thời kỳ Duy Tân, với sự thúc đẩy của chính phủ đối với nền giáo dục bình đẳng và sự ra đời của nhiều trường nữ sinh do các nhà truyền giáo phương Tây thành lập, các bé gái có cơ hội được học tập đến tận 17 tuổi trước khi bước vào đời sống hôn nhân. Giai đoạn này, dù có vẻ bị gò bó trong khuôn khổ của nhà trường, nhưng thực chất lại là quãng thời gian các thiếu nữ được tự do khám phá bản thân mà không phải gánh vác trọng trách của người phụ nữ trưởng thành.

Sự mơ hồ trong định nghĩa về thiếu nữ chính là điều kiện để họ được hưởng sự tự do ấy, và cũng chính nhận thức về tính hữu hạn của quãng thời gian này đã khiến tuổi trẻ trở thành một trải nghiệm sống động, một chuỗi cảm xúc mãnh liệt tách biệt khỏi sự đơn điệu của cuộc sống thường nhật. Chính trên nền tảng ấy, kể từ khi tạp chí dành cho thiếu nữ ra đời vào năm 1902(Shōjo Kai), văn học thiếu nữ đã dần hình thành và phát triển, mang đậm sắc thái cảm xúc và trữ tình. Khi minh họa cho tác phẩm tiêu biểu Hana Monogatari, họa sĩ Jun’ichi Nakahara đã tạo hình cho các thiếu nữ với thân hình mảnh mai cùng đôi mắt to tròn - những nét đặc trưng sau này trở thành tiêu chuẩn thẩm mỹ trong manga shoujo. Mối liên hệ giữa truyện tranh thiếu nữ và văn học thiếu nữ, vì thế, không chỉ nằm ở phương diện nghệ thuật, mà còn bắt nguồn từ gốc rễ tư tưởng sâu xa. Sau này đã có những nhận định rằng trong tranh của Jun’ichi Nakahara , hình tượng thiếu nữ không nhấn mạnh vào chức năng sinh lý của cơ thể nữ giới, mà mang ý nghĩa phản kháng lại hệ tư tưởng gia trưởng thời đó. Quan điểm này tuy không sai, nhưng việc gọi thứ là đôi mắt to một cách siêu thực của họ hướng về những điều viển vông lại không thực sự chính xác.

Image

Trong chap 22, Aota Izumi - người bị Nanaki từ chối tình cảm, đã có một độc thoại:

Mình cứ tưởng rằng sẽ không ai chấp nhận được chuyện một cô gái lại đi yêu một cô gái khác, vậy nên mình đã quyết định từ bỏ trước khi mình bày tỏ cảm xúc với người mình yêu. Nanaki, dù có lẽ cậu ấy sẽ không thể đáp trả lại tình cảm cho mình được, nhưng cậu ấy đã nghiêm túc trong việc trả lời cho mình biết cảm xúc của cậu ấy.

Dù bị từ chối, Izumi không hề cảm thấy bị đàn áp. Bởi lẽ, thông qua quan điểm ai cũng có quyền tự do lựa chọn người mình yêu, Nanaki đã thể hiện tính cách bình đẳng, không kỳ thị xu hướng tính dục của mình và hơn thế nữa, cách nhìn nhận vấn đề của Nanaki không dựa trên cái nhìn thường tình, thường thức hay những điều tương tự, mà nó xuất phát từ chính cảm nhận của bản thân cô về người khác. Điều này chỉ có thể đạt được nhờ đôi mắt đặc biệt mà cô sở hữu.

Trong bối cảnh đương đại của tác phẩm, chi tiết này còn mang sức nặng xã hội riêng. Failed Princesses không diễn ra trong một không gian khép kín, mà trong trường học hỗn hợp nam nữ, nơi quan hệ giữa các thiếu nữ luôn bị nhìn qua lăng kính vị trí trong lớp, tin đồn, đồng phục và những ý niệm thường nhật về điều gì được xem là bình thường. Lời độc thoại của Izumi, cụ thể là lúc cô thú nhận rằng mình đã từng nghĩ không ai có thể chấp nhận chuyện một cô gái lại đi yêu một cô gái khác, đã cho thấy tình cảm đồng giới ở đây không phải một dữ kiện trung tính, mà là một cảm xúc luôn có nguy cơ bị đẩy vào vùng không thể nói thành lời. Chính vì vậy, việc Nanaki đáp lại Izumi một cách nghiêm túc, thẳng thắn bày tỏ cảm xúc của bản thân thay vì né tránh, không chỉ là biểu hiện của tính cách tử tế. Đó còn là khoảnh khắc tác phẩm đình chỉ logic dị tính quy phạm đang bao quanh không gian học đường, khẳng định rằng ai cũng có quyền tự do lựa chọn người mình yêu mà không cần phải chờ đợi sự cho phép từ bất kỳ chuẩn mực nào.

Dù có là yêu cầu rằng đừng quá đắm chìm trong tình cảm của các biên tập viên nam trên tạp chí thiếu nữ thời Minh Trị, hay những lời phê phán nữ sinh chỉ biết trang điểm vào thời đại ngày nay, ta đều có thể thấy cái nhìn thiển cận và gò bó của xã hội đối với con người trong thực tại, đặc biệt là với phụ nữ. Tuy nhiên, sự phát triển của văn học thiếu nữ và ý thức ngày một tinh tế của họ trong việc thể hiện bản thân đã chứng minh rằng họ không chịu khuất phục trước những khuôn mẫu và bổn phận mà xã hội áp đặt. Trong sáng tạo nghệ thuật, đôi mắt to và siêu thực của thiếu nữ nhìn thấy một thế giới của cảm xúc, nơi họ tự do thể hiện bản thân mình mà không bị giới hạn bởi bất kỳ quy chuẩn đạo đức hay xã hội nào nào. Đây mới chính là điều mà đôi mắt của thiếu nữ xưa và nay luôn hướng tới và muốn truyền tải.

5. Sự thỏa hiệp với chế độ gia trưởng

Khi bàn về thiếu nữ, có một khuynh hướng phê bình cho rằng lý tính công cụ đương đại đã tước đi cá tính và biến con người thành những thực thể đồng nhất. Chính điều này khiến người ta luôn khao khát có được lối sống phóng khoáng, tự do của thiếu nữ và tìm cách tái hiện nó trong các ấn phẩm văn hóa anime và manga nói riêng hay các thể loại văn học khác nói chung, và ngay cả khi xã hội đã thoát khỏi sự kìm kẹp của luật pháp theo hướng gia trưởng. Theo hướng đọc này, thiếu nữ không hoàn toàn phủ nhận chế độ gia trưởng, mà tìm cách thỏa hiệp với nó nhằm tạo nên một con đường thứ ba nơi cả thiếu nữ và xã hội gia trưởng cùng duy trì chủ thể tính (subjectivité) của mình. Những giọt nước mắt và tính cảm tính trong văn học thiếu nữ thời Minh Trị, theo đó, được coi là một cách thể hiện theo hướng thẩm mỹ, giúp con người tìm lại chủ thể tính đã mất. Tuy nhiên, chính tại điểm này Failed Princesses cho phép ta kiểm tra lại giới hạn của cách đọc ấy, bởi nếu ta xem nước mắt và tính cảm tính của thiếu nữ như một hình thức thỏa hiệp mang tính thẩm mỹ, ta rất dễ bỏ qua sự thật rằng những cảm xúc đó nảy sinh ngay từ một vị thế bị bóp nghẹt. Chúng không phải dấu hiệu của một sự cộng sinh êm đẹp giữa thiếu nữ và chế độ gia trưởng, mà thường là phản ứng sống còn của một chủ thể đang bị dồn ép vào không gian hẹp. Khi phân tích sự đảo lộn logic trong những luận điểm này, ta cũng có thể thấy được vấn đề về sự khao khát mà tác phẩm này muốn thể hiện.

Trước hết, cần hiểu rằng tính cảm tính và nước mắt trong văn học thiếu nữ chỉ có thể tồn tại trong một không gian và khoảng thời gian bị giới hạn, như tạp chí thiếu nữ hay trường nữ sinh. Những giọt nước mắt ấy, ngay từ đầu, đã là sản phẩm của một chủ thể tính bị kìm hãm và thu hẹp ở một phạm vi nhất định. Việc coi sự thỏa hiệp là một biểu hiện của tính liên chủ thể(Intersubjectivity) thực chất là một cách để che giấu đi thực tế rằng chính những mối quan hệ quyền lực bất bình đẳng đã tạo ra sự thỏa hiệp ấy. Hơn nữa, những giọt nước mắt và tính cảm tính trong văn học thiếu nữ vốn tuyệt nhiên không phải là thứ có thể thẩm mỹ hóa. Trong chương ⟨Ukon Sakura⟩ của tác phẩm Hana Monogatari, Yoshiya Nobuko kể về một cô bé sống cô độc trong ký túc xá, chỉ sau một năm đã phải chia tay người chị mà cô yêu thương nhất. Và Sarah, nhân vật chị gái trong câu chuyện, khi ấy đã 17 tuổi và sắp phải rời khỏi ghế nhà trường. Đối với một cô gái sắp tốt nghiệp và buộc phải chấp nhận một cuộc hôn nhân sắp đặt, nước mắt của cô chính là biểu hiện của sự bất lực trước hoàn cảnh, của những đau đớn, khổ đau mà cô không có quyền tự quyết định. Việc lý giải những giọt nước mắt ấy như một biểu hiện thẩm mỹ của phương pháp thấu hiểu và thỏa hiệp giữa thiếu nữ và xã hội gia trưởng, thực chất là một sự hợp thức hóa cho những bất công, và vô tình xóa nhòa đi tiếng nói và cảm xúc thật của các thiếu nữ.

Trong khoảng thời gian ấy, chính sự mơ hồ và bất định về mặt định nghĩa của thiếu nữ mới là điều kiện để họ có thể sống thật với cảm xúc của mình. Quan điểm cho rằng thiếu nữ thỏa hiệp với xã hội gia trưởng, hay việc thẩm mỹ hóa nỗi đau của họ, thực chất đều xuất phát từ cách tư duy đã tước đi quyền làm chủ và tự do thể hiện cảm xúc của chính các thiếu nữ. Và cách tư duy ấy, một lần nữa, lại được thấy ở nhân vật Kurokawa Kanade trong sự khao khát của cô khi nói về Fujishiro Nanaki. Logic thỏa hiệp hay thẩm mỹ hóa nỗi đau vì thế không chỉ dừng lại ở phạm vi lịch sử tư tưởng. Trong Failed Princesses, nó trở lại ở cấp độ vi mô của đời sống nhân vật, đặc biệt trong cách Kurokawa và Miki nhìn Nanaki, nhất là khi sự ngưỡng mộ dần trượt thành sự thần thánh hóa, biến con người thành hình tượng bất biến và tước đi nhân tính đích thực của họ.

6. Cảm xúc ngưỡng mộ và sự tự mặc cảm

Image

Kurokawa, trong một đoạn hồi tưởng ở chap 33, đã ước rằng:

Giá như mình cũng có thể mạnh mẽ và xinh đẹp như cậu ấy... ước gì kiếp sau mình có thể được như cậu ấy... ước gì mình có thể được như Fujishiro Nanaki -...

Lời độc thoại này thể hiện một cách rõ nét sự ngưỡng mộ sâu sắc mà Kurokawa dành cho vẻ đẹp và sự tự tin toát ra từ Nanaki. Đó là một sự khao khát, một khát vọng được trở thành một phiên bản hoàn hảo hơn của chính bản thân cô, một khát vọng được sở hữu những phẩm chất mà Nanaki có. Tương tự, ở chap 35, Miki cũng được miêu tả là một người hết lòng ngưỡng mộ Nanaki, đến nỗi không thể chấp nhận bất kỳ sự thay đổi nào ở cô. Miki không chỉ là một nhân vật cản trở tuyến tình cảm hay một đối trọng đơn giản với Kurokawa mà cô là dạng cực đoan hóa của cùng một logic đang vận hành trong Kurokawa. Nếu Kurokawa khổ sở vì tự đặt mình ở vị trí thấp hơn Nanaki, thì Miki lại bám lấy một Nanaki bất biến để bảo vệ cảm giác ổn định của bản thân. Cả hai đều yêu Nanaki như một hình tượng trước khi thật sự nhìn cô như một con người. Điểm khác biệt chỉ là một bên tôn thờ từ xa bằng mặc cảm, bên kia muốn giữ chặt từ gần bằng chiếm hữu. Điều này cho thấy mức độ nguy hiểm của việc thần thánh hóa đối tượng ngưỡng mộ: nó không chỉ ngăn người ta tiến tới tình yêu, mà còn biến người kia thành vật sở hữu của một huyền thoại riêng mình tạo ra.

Sự sùng bái mà Kurokawa và Miki dành cho Nanaki có nhiều điểm tương đồng với văn hóa nữ sinh được đề cập trong tác phẩm Hana Monogatari. Dù câu chuyện lần này xảy ra ở một ngôi trường hỗn hợp nam nữ, điều đó cũng không làm suy giảm ý nghĩa của sự so sánh này khi tôi có ý định trình bày nó. Lý do là bởi tình cảm sùng bái của cả hai nhân vật chủ yếu đều hướng về phong thái và khí chất của Nanaki. Cho dù một số chương trong Hana Monogatari miêu tả văn hóa Onme/Shimai đặc trưng của các trường nữ sinh, thì tựu trung, đó vẫn là sự ngưỡng mộ và tôn sùng vẻ đẹp cả hình thức lẫn tâm hồn của các chị nữ sinh khóa trên.

Tuy nhiên, ẩn sau sự sùng bái và khao khát ấy, Yoshiya Nobuko đã chỉ ra rằng chính sự mặc cảm và tự ti mới là rào cản lớn nhất ngăn cản những cô gái tiếp cận với đối tượng mà họ ngưỡng mộ. Trong truyện ngắn ⟨Shikakui⟩, kể về cô giáo trẻ Shinjo, vừa tốt nghiệp từ một trường nữ sinh, và học trò Tanashima Iku của cô đều yêu một nữ sinh khác tên Oka Mitsuru. Bi kịch xảy ra khi Tanashima Iku, vì quá căm hận Shinjo và cũng vì sự mặc cảm của một học sinh đối với cô giáo của mình, đã phát điên và chọn cái chết. Sau sự việc đau lòng ấy, Shinjo không thể đến với Mitsuru, vì cô luôn cảm thấy bản mình thất bại, không xứng đáng. Cô tự nhủ:

Tội lỗi giết chết một học sinh đã nặng nề đến mức khiến tôi đau khổ không chịu nổi, nếu còn phải tổn thương tâm hồn của một cô gái xinh đẹp khác, làm sao tôi có thể chịu đựng được nữa?.

Và mỗi lần nghĩ đến việc tiếp cận Mitsuru, Shinjo lại cảm thấy bối rối và bất an vì mặc cảm tự ti của bản thân. Tình huống tương tự cũng xuất hiện trong các truyện ngắn ⟨Koendo⟩ và ⟨Kamojigusa⟩, dù có phần khác biệt. Nhìn chung, trong các tác phẩm của Yoshiya Nobuko, hầu như không có nhân vật chính nào chủ động rời xa người mình sùng bái và yêu mến mà không cảm thấy bản thân kém cỏi hơn ở một khía cạnh nào đó. Điều này cho thấy những tư duy về một trật tự xã hội cứng nhắc, nơi mỗi người có một vị trí nhất định, đã ăn sâu vào tiềm thức và chi phối cảm xúc của mỗi người. Đây cũng chính là nền tảng tư tưởng mà văn học thiếu nữ muốn thể hiện và phản tư.

Image

Trong chap 32, khi từ chối tình cảm của Nanaki, Kurokawa đã phải gào lên rằng:

Dù là người yêu, hay là người đặc biệt, tớ cũng không thể làm được, tớ không thể gánh trên vai được trọng trách to lớn đó. Tớ không xứng đáng với vị trí này, đó không phải là chỗ dành cho tớ.

Những lời gào của Kurokawa trong cảnh từ chối này không đứng yên như một mệnh đề tâm lý thuần túy. Chúng bị đẩy vào một nhịp khung căng và gắt, khiến khoảng cách giữa hình tượng và con người gần như vỡ tung ngay trên trang truyện. Như ở chap 9 và chap 31 đã cho thấy, Ajiichi thường để chính bố cục mang lấy phần rung động mà lời nói không tự mình chứa hết, khiến cho cảm xúc tràn ra khỏi hộp thoại, chiếm lĩnh cả khung hình và khoảng trắng xung quanh. Vì thế, mặc cảm của Kurokawa ở khoảnh khắc này không chỉ là nội dung độc thoại, mà còn là một cơn co rút của chính hình thức của manga.

Và bên cạnh mặc cảm về ngoại hình, Kurokawa còn băn khoăn về khoảng cách giai cấp giữa cô và Nanaki trong môi trường học đường. Điều đáng chú ý là Ajiichi không chỉ miêu tả mặc cảm của Kurokawa qua những biểu hiện trực tiếp của sự tự ti như chúng ta đã thấy, mà còn thể hiện nó qua xu hướng hành động của nhân vật. Chẳng hạn, trong chap 6, khi bị Nanaki lôi đi mua sắm, Kurokawa đã phàn nàn: "Tớ không có tâm trạng cho việc mua sắm vì mục đích mua sắm." Câu nói tưởng chừng như một lời đùa này thực ra lại cho thấy nỗi băn khoăn của Kurokawa. Cô luôn lo lắng làm sao để ăn mặc cho phù hợp với người bạn bên cạnh, cũng như làm sao để đáp ứng tiêu chuẩn mà bản thân đặt ra cho một chuyến mua sắm. Và trái ngược với Kurokawa, Nanaki mua sắm chỉ đơn giản vì cô muốn như vậy.

Qua những chi tiết nhỏ trong cuộc sống thường nhật này, ta thấy được Kurokawa luôn cố gắng để hòa nhập, để phù hợp với những tiêu chuẩn và khuôn mẫu có sẵn. Điều này cho thấy một tâm lý tự ti, một ý thức rằng mình luôn phải có nghĩa vụ phải phục tùng những quy chuẩn bên ngoài hơn là sống thật với bản thân. Tuy nhiên, sự phục tùng ấy cũng đồng thời thể hiện sự quan tâm, sự cân nhắc của Kurokawa đối với người khác. Điều này được thể hiện rõ qua lời tâm sự của cô sau khi từ chối tình cảm của Nanaki trong chap 32:

Vì thế mà, khi cậu từ chối lời tỏ tình của Izumi, tớ đã không thể chịu nổi. Người luôn hết mình quan tâm tới Fujishiro, một người đứng ngang hàng với cậu ấy, vậy mà….

Có thể thấy, mặc cảm tự ti như một bức tường ngăn cách giữa Kurokawa và Nanaki, nhưng đồng thời, nó cũng chứa đựng một sự trân trọng, một tình cảm sâu sắc mà Kurokawa dành cho người mình ngưỡng mộ. Sự bất an mà cô cảm thấy khi ở bên Nanaki, vì thế, cũng có thể coi là một biểu hiện của lòng vị tha, của đạo đức sống vì người khác của bản thân cô. Tuy nhiên, cái cách mà Kurokawa đang thần thánh hóa Nanaki, biến cô trở thành một hình tượng để bản thân mình tôn sùng, lại hoàn toàn phủ nhận nhân tính đích thực của Nanaki. Điều này được Mishima Yukio chỉ ra qua nhân vật Shugo Kimori trong một tác phẩm khác của ông:

Thiên tài của người đàn ông, sắc đẹp của người phụ nữ, chính là ân huệ của thần linh, ta tuyệt đối không được lãng phí bừa bãi. Số mệnh của một thiên tài là định sẵn là không thể tự quyết được, phải từ bỏ mọi mong muốn tầm thường trên đời. Tương tự, mỹ nhân cũng là người không có được sự tự do, phải cống hiến cả đời cho sắc đẹp của mình. Ngoài cái đẹp ra, mọi thứ khác đều phải hy sinh.

7. Giá trị của hình tượng, vẻ đẹp của người phụ nữ

Trong truyện ngắn Nữ Thần(Megami), Mishima đã miêu tả một thứ thẩm mỹ quan đặt hình tượng lên trên hết tất cả mọi thứ, một cái đẹp hoàn toàn tách rời khỏi tính người theo quan niệm thường thức. Yêu cầu của nhân vật Shugo Kimori đối với vợ mình khi tôn sùng vẻ đẹp nữ tính cũng tương tự như kỳ vọng mà Kurokawa dành cho Nanaki. Shugo Kimori theo đuổi một vẻ đẹp hình tượng chi phối mọi khía cạnh trong cuộc sống và ngoại hình của người vợ. Tương tự, trong chap 13, khi ôm Nanaki, Kurokawa đã tự nhủ:

Sự cảm thông? Tình bạn? Cho dù có là gì, thì nó cũng không phải thứ cảm xúc trong lòng mình lúc này, mình chỉ không chịu được khi thấy một nàng công chúa phải rơi nước mắt.

Imaage

Phân cảnh này cho ta thấy cả Kurokawa và Shugo Kimori đều nằm trên cùng một trục của sự thần thánh hóa hình tượng của đối phương. Đối với họ, người khác chỉ là những vật thể chỉ có một khía cạnh đáng giá, và những cảm xúc có thể phá vỡ hình tượng lý tưởng ấy cần phải bị loại bỏ.

Tiếp theo, trong chap 34, Kurokawa đã bày tỏ:

Fujishiro mà tớ ngưỡng mộ, sẽ không bao giờ chọn một người như tớ...!!.

Lời tâm sự này thể hiện sự từ chối những thứ ham muốn trực tiếp của Kurokawa, cô không muốn tìm kiếm bất cứ điều gì từ Nanaki một cách trực tiếp. Điều này cho thấy một lý do khác khiến cho sự khao khát dựa trên tình yêu hình tượng ngăn cản người khao khát tiếp cận đối tượng, đó chính là yêu cầu duy trì một vị trí có thể chiêm ngưỡng đối tượng từ xa. Chỉ khi tách mình khỏi mối liên hệ trực tiếp với đối tượng, người ta mới có thể nắm bắt nó từ bên ngoài. Đây cũng chính là điều mà các nhân vật chính trong Hana Monogatari, những người tự cho mình thua kém/bất hạnh so với người khác, cùng với mong muốn khi rời xa người họ yêu - giữ cho đối phương một hình tượng của một con người hạnh phúc. Tuy nhiên, cần phải nhận thức được rằng con người chúng ta không tồn tại trong một không gian phẳng, nơi hình tượng bị đông cứng thành một bức tranh tĩnh. Ở đó, chỉ có sự hoang tàn của nhân tính. Con người là những sinh thể cần được cảm nhận bằng thân xác, bằng trải nghiệm cảm nhận thực tế. Và khoảnh khắc Kurokawa nhận ra điều này cũng chính là lúc những ma pháp kỳ diệu của hình tượng lý tưởng mang tên Fujishiro Nanaki đã bị phá vỡ:

Mình cần phải đối mặt với cậu ấy để nói lời xin lỗi, như cách mà cậu ấy đã làm với Izumi. Đây không phải là một câu chuyện giả tưởng, mình cần phải nhìn vào mắt của cậu ấy và đối diện với mọi chuyện -...

III. Góc nhìn và sự thay đổi

1. Vẻ đẹp của lớp trang điểm

Okamoto Kanako từng viết:

Gần đây tôi thường đề xướng, trong tiền đề không đến mức phóng túng vô độ, hãy giải phóng sự ràng buộc nghiêm khắc gọi là nghi biểu đối với mọi cử chỉ của phụ nữ... Nên theo đuổi vẻ đẹp phóng túng tùy ý? Hay sự tự do lịch thiệp? Thực sự đi truy cứu chúng nên như thế nào thì lại hơi cố chấp rồi. Các quý cô hãy tự mình tuân theo nghĩa đen, lắng nghe động cơ nội tâm và tâm trạng lúc đó, tự nhiên sẽ tìm thấy câu trả lời của mình. Lời khuyên này như một lời nhắc nhở rằng vẻ đẹp đích thực không nằm trong những khuôn mẫu hay hình tượng cứng nhắc, mà nằm trong sự tự do, trong cách mỗi người lắng nghe và sống thật với cảm xúc của chính mình.

Terayama Shuji thì cho rằng tác dụng quan trọng nhất của sự ngụy trang không phải là biến cuộc sống thực tại thành ảo tưởng. Dù việc hóa thân thành siêu trộm Arsène Lupin có thể mang lại niềm vui và giúp ta tạm quên đi phần nào nỗi buồn trong cuộc đời, nhưng điều đó cũng chỉ dừng lại ở mức giải trí nhất thời. Ý nghĩa sâu xa hơn của sự ngụy trang nằm ở chỗ nó giúp con người vượt qua những sự phân biệt đối xử. Khi mà trong xã hội ngày nay, chúng ta thường phân loại và cũng như phân biệt người khác dựa trên những khác biệt để thích nghi với cuộc sống. Sự phân biệt đối xử này không chỉ giới hạn ở sự chênh lệch về đẳng cấp hay dân tộc, mà còn bao gồm vô số những khác biệt khác do các danh từ riêng mang lại - như sự khác nhau giữa người cao gầy và người lùn, người đẹp và người xấu, trí thức và vận động viên... Những dải ngân hà khác biệt ấy bao quanh và chi phối cuộc sống của chúng ta.

Image

Trong chap 2, Kurokawa đã độc thoại rằng:

Trong cuộc sống này, mỗi người đều có vai diễn của riêng họ, đó không phải là điều mà ai đó sẽ dạy cho chúng ta, bạn chỉ có thể biết tới nó khi xã hội phân vai cho bạn.

Lời nói này chắc chắn đang ám chỉ một hình thức phân biệt đối xử, nhưng ở đây, nó không liên quan đến giai cấp hay giới tính của Kurokawa, mà bản chất của nó chính là sự phân biệt đối xử dựa trên hình tượng, dựa trên sự khác biệt mà Shuji Terayama gọi mỹ miều là một loại danh từ riêng. Khi những khác biệt ấy đã trở thành một phần của môi trường sống này, thì nhận thức về cuộc sống thường nhật như một chế độ lại càng củng cố thêm suy nghĩ tôi chỉ có thể là chính tôi trong Kurokawa. Trong chap 3, khi đáp lại câu hỏi của Nanaki, Kurokawa đã thầm nghĩ:

Làm những gì cậu ấy muốn…nhưng khoảng cách này làm sao có thể dễ dàng thu hẹp được vậy chứ...

Điều này cho thấy tính phi tự nhiên của hình tượng về sự khác biệt cố hữu trong mối quan hệ giữa người với người. Chính vì nhận thức về hình tượng tưởng chừng như bất biến của bản thân mà Kurokawa mới vô thức tạo ra khoảng cách với Nanaki.

Nhưng trái ngược với Kurokawa, điểm khác biệt căn bản của Fujishiro Nanaki nằm ở sự tự tin và thái độ không màng đến những trật tự xã hội. Trong chap 2, khi biết Kurokawa sẽ không kể với ai về chuyện cô bị bạn trai đá, Nanaki đã ngạc nhiên:

Tôi đã luôn lấy cậu ra làm trò đùa, gọi cậu là đồ xấu xí và nhiều thứ khác nữa. Nếu ai đó làm việc đó với tôi và sau đó họ bị lừa dối bởi một người khác, tôi sẽ cười vào mặt họ và nói đáng đời.

Lời nói này của Nanaki cho thấy cách cô nhìn nhận mối quan hệ giữa cô và Kurokawa dựa trên lý thuyết về cách đối xử với con người, và tư duy bình đẳng của cô ấy được thể hiện một cách vô thức qua cách suy nghĩ từ những điều đơn giản nhất, thậm chí còn rõ nét hơn cả những lời nói tích cực xóa bỏ khoảng cách với Kurokawa. Dù là trong tình huống này hay trong các tương tác khác, Nanaki chưa bao giờ cho rằng giai cấp của bản thân cao hơn người khác.

Trong chap 1, Nanaki đã bày tỏ quan điểm rằng giữ gìn hình tượng dễ thương là một phần không thể tách rời của bản dạng nữ tính. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là cô loại trừ các hình tượng khác. Nếu hiểu lầm quan điểm này, sẽ dẫn đến những chỉ trích từ góc nhìn nữ quyền, cho rằng Nanaki đã nội hóa ánh nhìn nam quyền, coi một hình tượng nào đó thu hút sự chú ý là tiêu chuẩn của nữ tính. Đây là cách suy nghĩ coi hình tượng như một yếu tố bên ngoài và gán cho nó một giá trị nhất định. Trong chap 8, khi một giáo viên nam cố gắng kỷ luật việc trang điểm của Nanaki và Kurokawa, ông ta đã mỉa mai:

Mấy em năm sau là phải chuẩn bị cho kỳ thi đại học rồi đúng không? Không thể nào cứ dễ dãi như vậy mãi được.

Và thật trớ trêu, quan điểm này lại đứng trên cùng một trục với ví dụ trước. Sau khi loại bỏ hình tượng của sự tiêu cực bị định kiến bởi xã hội, thì những gì còn lại trong cùng một nhận thức cũng chỉ là một hình tượng nữ tính đã được lý tưởng hóa, không có bất kỳ khả năng thay đổi nào. Tuy nhiên, cách thảo luận như vậy lại coi hình tượng như một thứ có thể tách rời và áp đặt từ bên ngoài trong khi trên thực tế, hình tượng được thể hiện qua thân xác là một hành vi đồng điệu và không thể tách rời khỏi chủ thể. Hình tượng được của một con người được hình thành thông qua sự thể hiện cũng đồng thời là một phần của bản thân họ. Cho dù có vẻ như đang tiếp nhận vị trí chủ thể nam tính, cách biểu đạt dễ thương mà Nanaki và Kurokawa trải nghiệm và ý nghĩa của nó đối với họ hoàn toàn không liên quan đến việc tự vật thể hóa bản thân. Việc áp dụng một cách máy móc khái niệm vật thể hóa chỉ là một luận điệu sai lầm, bỏ qua cách ý thức diễn giải và năng lực hành động của cá nhân.

Tuy nhiên, cũng cần nhìn nhận rằng lớp trang điểm ở giai đoạn đầu không hề xuất phát từ một nơi hoàn toàn tự do. Ở giai đoạn đầu, trang điểm của cả Nanaki lẫn Kurokawa vẫn diễn ra trong một thế giới nơi ngoại hình nữ giới bị giám sát và xếp hạng liên tục. Với Kurokawa, nó khởi đầu từ mặc cảm và mong muốn trở nên xứng đáng hơn khi đứng cạnh Nanaki, còn với Nanaki, việc duy trì hình tượng dễ thương cũng đồng thời là một cách kiểm soát ánh nhìn đang bao quanh mình. Điểm sắc sảo của Ajiichi không nằm ở chỗ tuyên bố trang điểm vốn đã tự do, mà ở chỗ cô miêu tả quá trình một thực hành khởi đầu trong áp lực xã hội dần dần được chuyển hóa thành không gian tự kiến tạo bản thân, đi từ trang điểm vì nghĩa vụ, vì mặc cảm, dần trở thành trang điểm vì mong muốn được tự mình quyết định.

Trong một đoạn khác, Kurokawa đã nói rằng:

Fujishiro là...! Đối với mình là người rất đáng ngưỡng mộ... giống như nàng công chúa vậy...!! Cậu ấy vừa dễ thương vừa mạnh mẽ vừa cao quý, mình cũng muốn trở thành người giống như Fujishiro!! Vì vậy mình sẽ không tin lời khác nói như vậy nói đâu, mình sẽ chỉ tin lời dễ thương mà Fujishiro nói thôi.

Image

Ở đây, dù có vài vấn đề về sự ngưỡng mộ mà cô dành cho Fujishiro, nhưng điều đáng chú ý là hình tượng mà Kurokawa thể hiện thông qua trang điểm chính là một bản thân khác mà cô yêu thích và cố gắng khẳng định. Và sự dễ thương ấy, đối với Kurokawa, chính là sự tích lũy của lòng tự tin. Và trên cơ sở mối liên hệ giữa hình tượng và bản thân, cần lưu ý rằng trong chap 1, khi bày tỏ ý kiến tiêu cực về Kurokawa, Nanaki đã nói: "Kẹp tóc thì quê mùa, tóc rối bù, lông mày còn chưa tỉa." Cô vốn không nhắm vào ngoại hình về mặt bản chất của Kurokawa, mà hoàn toàn xuất phát từ khía cạnh chỉnh trang về mặt ngoại hình. Hay trong chap 6, Nanaki cũng tùy hứng đề cập đến nỗ lực cô đã cố gắng để điều chỉnh thói quen sinh hoạt và ăn uống vì hình tượng mà bản thân mong muốn. Vì vậy, định nghĩa của Nanaki về sự dễ thương không phải là một tài năng bẩm sinh, mà là một quá trình nỗ lực để tạo ra nó. Trang phục và cách trang điểm mà cô chọn cho Kurokawa cũng không phải là tiêu chuẩn duy nhất, mà là thứ phù hợp với phong cách của cô ấy. Từ đó, sự dễ thương đã trở thành một tiềm năng mà tất cả mọi người đều có, quan điểm của Nanaki thể hiện sự bình đẳng về mặt tồn tại có thể đạt được về bản chất.

Hay trong chap 4, khi nhìn Kurokawa lén soi gương, Nanaki đã thầm nghĩ: "Trang điểm xong khuôn mặt sẽ có sự thay đổi, nên có cảm giác không hợp là chuyện bình thường...". Điều này cho thấy trang điểm có thể được coi là một hình thức ngụy trang, tuy nhiên không theo nghĩa trốn chạy bản thân. Ban đầu, nó vẫn vận hành trong các chuẩn thẩm mỹ có sẵn và không hề tự động giải phóng ai khỏi mọi định kiến. Nhưng chính vì nó cho phép chủ thể can dự vào cách mình xuất hiện, trang điểm mở ra một khe hở trong logic hình tượng cố định. Nó không xóa sạch mọi phân biệt đối xử chỉ trong một lần, mà dần làm suy yếu đòi hỏi cho rằng một con người phải mãi đồng nhất với hình ảnh xã hội đã áp sẵn lên họ. Với Kurokawa, điều này có ý nghĩa đặc biệt, bởi vì lần đầu tiên cô không chỉ chịu đựng việc bị nhìn, mà bắt đầu tham gia chủ động vào việc định hình chính khả năng được nhìn thấy của mình. Và chức năng có thể giúp con người tránh được phân biệt đối xử của lớp trang điểm/ngụy trang không nằm ở việc đóng vai một nhân vật khác để trốn tránh thân phận vốn bị phân biệt đối xử. Như đã đề cập trong chương một, trên lập trường khả năng vô hạn biến đổi của con người, nó phủ định bất kỳ định kiến nào về một hình tượng cố định.

2. Hình tượng và nội tâm

Nanaki đã từng nhấn mạnh mối liên hệ giữa hình tượng bên ngoài và nội tâm bên trong. Điều này cho thấy sự ghét bỏ ban đầu của cô đối với Kurokawa tuyệt đối không phải là sự chế giễu nông cạn về ngoại hình của cậu ấy. Ví dụ như qua câu nói "Tại sao vẫn có thể cư xử như không có chuyện gì vậy?" thể hiện sự bất bình của Nanaki trước thái độ của Kurokawa. Bởi lẽ cô không thể hiểu được nhân cách mà Kurokawa thể hiện qua vẻ ngoài lộn xộn đó. Đối với Nanaki, chăm chút ngoại hình là điều căn bản của sự tồn tại với tư cách một cô gái. Vì vậy, nhân cách tự tin và mạnh mẽ của cô luôn đi đôi với vẻ ngoài lộng lẫy. Hay trong chap 33, Kurokawa đã thầm nhận xét:

Không để ý đến mọi thứ xung quanh, khí chất tuyệt đối đó đã thu hút mình.

Cô nhìn thấy sự khác biệt siêu việt mà Nanaki thể hiện ra xung quanh bằng ngoại hình và thần thái tuyệt vời của cô. Sự thể hiện hình tượng luôn hướng tới một người xem nào đó, kể cả khi chủ thể không hoàn toàn ý thức về điều đó. Vì thế, từ đây ta cũng có thể suy ngược ra một nguyên nhân khiến Nanaki lúc đầu không được bạn trai yêu hết lòng. Tất nhiên, việc người bạn trai ngoại tình là sai trái, nhưng cũng cần chú ý rằng anh ta cho rằng Nanaki rất nhàm chán. Điều này rõ ràng là phản ứng trước việc Nanaki tạo dựng hình tượng của bản thân, khi mà cô đã quá thành thục trong việc giữ mình ở phiên bản mạnh mẽ, dễ thương, không sơ hở, đến mức bản thân hình tượng ấy đôi khi hoạt động như một lớp giáp. Nếu Kurokawa tự vệ bằng rút lui và tự hạ thấp bản thân, thì Nanaki tự vệ bằng kiểm soát tuyệt đối cách mình xuất hiện. Theo nghĩa đó, sự tự tin của Nanaki cũng là một cơ chế chống tổn thương, và chính vì thế cô chỉ thật sự bị lay chuyển bởi Kurokawa, người buộc cô đi ra khỏi vị thế chỉ được ngưỡng mộ để bước vào một quan hệ nơi mình cũng có thể bị từ chối, bị đau và bị biến đổi. Và câu hỏi "Tại sao lại bị đối xử như vậy...?" chính là một câu hỏi về hoàn cảnh xuất phát từ "tôi". Dù biểu tượng ý thức bản thân này hoàn toàn không sai, nó có thể khiến Nanaki trở nên nhàm chán nếu như cô là một đối tượng trong một mối quan hệ mà hoàn toàn không ý thức được cảm nhận của đối phương.

Tuy nhiên, nhìn từ khía cạnh khác, ưu điểm của hình tượng này lại giúp Nanaki vượt qua bầu không khí xung quanh. Yamamoto Shichihei đã viết:

Khi một người không phân biệt giữa bản thân mình và người khác, họ sẽ cố gắng giữ trạng thái này một cách tuyệt đối. Điều này có nghĩa là họ sẽ coi những trở ngại ngăn cản họ thực hiện hành động là xấu xa và tìm cách loại bỏ chúng. Tâm lý này chính là việc tuyệt đối hóa cảm xúc, và việc sử dụng cảm giác tồn tại để hiểu người khác cũng có thể coi là nền tảng cho việc thần thánh hóa và kiểm soát họ.

Nói cách khác, khi một người không phân biệt giữa chính mình và người khác, họ sẽ nhìn nhận mọi rào cản trong cuộc sống như là những điều xấu và tìm cách xóa bỏ chúng. Tâm lý này dẫn đến việc họ tuyệt đối hóa cảm xúc của mình, và cách họ hiểu người khác cũng dựa trên cảm giác tồn tại của bản thân. Và trong trường hợp của Nanaki, hình tượng mạnh mẽ và tự tin của cô đã giúp cô vượt qua những ảnh hưởng và áp lực từ xung quanh. Nhờ đó, cô có thể giữ vững bản thân trước những định kiến và kỳ vọng của người khác.

Trong chap 4, khi Nanaki và Miki cãi nhau, Izumi đã cố gắng hòa giải với ý tốt:

Trong vụ này thì cả hai cậu đều sai, vậy nên hãy cùng xin lỗi nhau và cùng bỏ qua chuyện này di.

Tuy nhiên, phương pháp của Izumi lại mắc một sai lầm, đó là sự tuyệt đối hóa trạng thái hòa hợp vốn có của cả nhóm và vô tình khiến ý chí muốn chia rẽ của Miki và Nanaki đạt đến mức không còn có thể phân biệt. Đây chính là bầu không khí đã được áp đặt lên ý chí cá nhân. Trước yêu cầu này, Nanaki kiên quyết yêu cầu Miki phải xin lỗi vì đã coi thường Kurokawa thì mới có thể làm lành. Tình cảm và ý chí của cô từ chối sự quy giản.

Image

Bầu không khí cũng đồng thời là biểu hiện cho sự quy phạm và sự ngầm hiểu của tập thể. Tuy nhiên, khi ở cùng người khác, Nanaki về cơ bản vẫn hành động theo ý chí và cảm xúc của riêng cô. Trong chap 5, cô đã thẳng thắn nói với Kurokawa:

Nếu cậu thực tâm nghĩ rằng tớ thật phiền phức, thì tớ sẽ không đến làm phiền cậu nữa, bởi với tớ thì những thứ như mọi người nhìn nhận chúng ta ra sao hay chúng ta khác biệt như thế nào, tớ cũng không để tâm.

Điều này thể hiện sự phớt lờ hoàn toàn của Nanaki đối với các chuẩn mực hành vi của con người. Điều duy nhất cô quan tâm là đối phương nghĩ như thế nào hay nói cách khác là cảm xúc của đối phương.

Okamoto Kanoko cũng từng nói:

Chỉ cần sửa đổi hành vi bên ngoài, tâm hồn sẽ dần héo úa.

Câu nói này ngược lại càng làm nổi bật tâm hồn mạnh mẽ mà Nanaki sở hữu. Chỉ dùng lời nói hay tình cảm không đủ để khiến cô nảy sinh tình yêu bởi đó nhất định phải là người có thể lay động bản ngã kiên cường của cô. Trong chap 31, khi Kurokawa Kanade, người cuối cùng có thể khiến Nanaki buồn vui theo bằng hành động, đã được cô xác định là tình yêu của cuộc đời mình. Khi bị Kurokawa từ chối trong chap 34, Nanaki cảm thấy phần cốt lõi trong lòng mình như bị nhổ đi mất. Đây cũng chính là rủi ro mà việc cảm nhận người khác một cách cộng hưởng không qua trung gian phải gánh chịu lấy.

Kanoko cũng khẳng định:

Bất kể là phụ nữ như thế nào, trang điểm đều dễ thương.

Trên cơ sở này, tác phẩm Failed Princesses có thể được gọi là một thể văn "trang điểm". Cách gọi này không phải một nhãn thể loại đã được cố định trong lịch sử văn học, mà là một khái niệm được sử dụng trong phạm vi bài viết này. Gọi Failed Princesses là một thể văn trang điểm nghĩa là xem tác phẩm này như một văn bản lấy việc tự trình hiện, tự sửa đổi hình tượng và quyền được trở thành khác đi làm nguyên lý thẩm mỹ lẫn đạo đức. Trang điểm ở đây không phải phụ kiện của câu chuyện, mà là mô hình thu nhỏ của toàn bộ thế giới quan mà tác phẩm muốn bảo vệ.

Trang điểm không chỉ đơn thuần là việc làm đẹp, mà còn là một thái độ giúp con người từ chối việc thần thánh hóa bản thân hay người khác. Đối với Nanaki, trang điểm không chỉ là một hành động bề ngoài mà còn thể hiện quan điểm sống của cô. Cô coi trọng tất cả cảm xúc, cả của bản thân lẫn của những người xung quanh, một cách nhất quán và chân thành. Kurokawa Kanade, người mà Nanaki đã giúp đỡ, chính là hình mẫu mà những thiếu nữ trăm năm về trước mong muốn được cứu chuộc. Sự khác biệt giữa Nanaki và Kurokawa không chỉ nằm ở cách họ thể hiện bản thân, mà còn phản ánh những giá trị và quy tắc xã hội mà họ phải đối mặt.

Có thể thấy rằng tác phẩm này liên tục chống lại cùng một cơ chế ở nhiều tầng khác nhau. Ở tầng cảm xúc, đó là cơ chế phân cấp nỗi đau, xem chỉ một số tổn thương mới đáng được công nhận. Ở tầng quan hệ, đó là cơ chế thần thánh hóa con người thành hình tượng rồi bắt họ trung thành với hình tượng ấy. Ở tầng biểu đạt, đó là cơ chế muốn đóng khung bản thân vào một vai diễn cố định. Tác phẩm lần lượt phá vỡ từng tầng ấy thông qua lời nói, bằng hình ảnh, bằng lịch sử của thiếu nữ, và cuối cùng bằng lớp trang điểm như hành vi tự viết lại chính mình. Vì thế, ý nghĩa của tiêu đề không nằm ở việc các nhân vật là những công chúa thất bại theo chuẩn mực của xã hội, mà ở chỗ chính chuẩn mực ấy bị giải thiêng. Họ thất bại trong việc trở thành những hình tượng hoàn hảo, bất biến, dễ được tiêu dùng bởi ánh nhìn bên ngoài. Nhưng cũng nhờ vậy, họ mới giữ lại được điều mà tác phẩm xem là trung tâm, đó chính là quyền được cảm thấy mà không bị xếp hạng, quyền được thay đổi mà không bị xem là phản bội bản thân, và quyền được hiện diện trong thế giới này như những chủ thể không hoàn hảo nhưng hoàn toàn có thực. Tất cả các nhân vật trong tác phẩm này đều không phải là người hoàn hảo theo định nghĩa hay góc nhìn xã hội, nhưng tất cả họ cũng đều được tác giả khẳng định là những nàng công chúa. Họ không phải là một thực thể siêu việt, nhưng có vị trí trong thế giới này và lấy cảm nhận làm trung tâm. Đây chính là một nhóm できそこないの姫君たち(Những nàng công chúa thất bại)

Image

Bình Luận

Toi Yeu Be Gai 13 Tuoi
Toi Yeu Be Gai 13 Tuoi